PodcastsTạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam
Latest episode

81 episodes

  • Sân bay quốc tế Long Thành: Hệ thống giao thông kết nối vẫn chưa theo kịp

    2026-07-06
    Theo lịch trình dự kiến, sân bay quốc tế Long Thành sẽ được đưa vào hoạt động kể từ tháng 12 năm nay song song với sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố khiến dự án đầy tham vọng này của Việt Nam có nguy cơ bị chậm trễ. Kế hoạch chuyển các chuyến bay quốc tế từ Tân Sơn Nhất đến Long Thành đang đặt ra nhiều vấn đề, nhất là vì hệ thống giao thông kết nối hai sân bay vẫn chưa theo kịp.
    Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành được xây dựng trên diện tích khoảng 5.000ha, có tổng mức đầu tư gần 16 tỷ đôla, với Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) là chủ đầu tư dự án. Riêng giai đoạn 1 được thiết kế với công suất 25 triệu lượt hành khách và 1,2 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Mới đây, ông Nguyễn Đức Hùng, Quyền Tổng Giám đốc ACV đã cam kết với thủ tướng Lê Minh Hưng là sẽ hoàn thành toàn bộ dự án vào tháng 12/2026 và đưa sân bay này vào hoạt động.
    Tuy nhiên, trả lời RFI Việt ngữ ngày 03/07/2026, tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Kỹ thuật hàng không Trường Đại học Văn Lang, cho rằng không cần xây dựng sân bay Long Thành một cách gấp rút như thế:
    "Tôi thấy là không hiểu sao mà phần lớn như là bị tự kỷ ám thị, tự mình tin  như vậy, rồi nói như vậy và cùng nhau nói như vậy, không ai nói ngược lại. Tức là tại sao Long Thành phải hoạt động vào năm 2026? Tại sao đặt những mốc thời gian như vậy, trong khi một công trình xây dựng đòi hỏi thời gian để nó có thể là hoàn tất, bảo đảm chất lượng hoạt động khi hoàn tất, chứ không phải đặt mức phải bắt đầu hoạt động, rồi thúc đẩy hoàn tất cho  kịp cái mốc đó. Thứ nhất là không bảo đảm được kết quả như là để tự nó theo đúng điều kiện khách quan để nó hoàn tất.
    Thứ hai là sẽ tốn kém. Thúc ép như vậy thì đưa đến chuyện là mọi việc đều  gấp rút, thời gian làm thêm ngoài giờ, làm thêm ban đêm tốn rất nhiều chi phí mà không cần thiết. Bởi vì có nhất thiết Long Thành phải hoạt động cuối năm 26 hay đầu năm 27 không? Chậm 1 năm, ngay cả chậm hơn nữa cũng chẳng sao cả. Người ta vịn vào một cái cớ rất là vô lý là sân bay Tân Sơn Nhất quá tải.
    Quá tải là gì? Quá tải là vượt quá sức hoạt động của nó. Thật sự quá tải chỉ xảy ra vào dịp Tết mà sân bay vẫn chịu đựng được. Tết vừa rồi có ngày tiếp nhận trên cả ngàn chuyến bay mà sân bay vẫn hoạt động. Cho nên không có một sự cấp bách gì mà phải đưa sân bay Long Thành vào hoạt động lấy cớ là vì Tân Sơn Nhất quá tải." 
    Theo báo chí trong nước, vào đầu tháng 7,  AVC đã đề xuất với chính phủ là thay vì chuyển toàn bộ hoạt động khai thác từ sân bay Tân Sơn Nhất sang Long Thành, hai sân bay sẽ được vận hành đồng thời theo phương án: Tân Sơn Nhất tiếp tục khai thác toàn bộ các đường bay nội địa cùng các đường bay quốc tế ngắn và trung bình, trong khi Long Thành “từng bước đảm nhận các đường bay quốc tế phù hợp nhằm phát huy công suất ngay từ giai đoạn đầu đưa vào khai thác”. Phương án này được xem là “nhằm khai thác tối đa năng lực của cả hai sân bay”.
    Cụ thể, trong giai đoạn đầu tiên (dự kiến từ 1/12/2026 – 27/3/2027), ACV đề xuất chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế đường dài từ sân bay Tân Sơn Nhất sang sân bay Long Thành. Giai đoạn 2 (từ 28/3/2027 đến hết năm 2030), toàn bộ các chuyến bay quốc tế còn lại sẽ chuyển sang sân bay mới. Giai đoạn sau năm 2030 sẽ chuyển toàn bộ các chuyến bay quốc tế thường lệ sang khai thác tại sân bay Long Thành, còn Tân Sơn Nhất sẽ chủ yếu khai thác các chuyến bay nội địa.
    Ngày 30/06 vừa qua, ACV thông báo trong số các hãng nội địa, 3 hãng Vietnam Airlines, Vietjet Air và Vietravel Airlines đã chính thức đăng ký khai thác sân bay Long Thành. Đối với các hãng hàng không quốc tế, ACV trước đó cho biết đại diện 34 hãng "đã khảo sát thực địa và chuẩn bị cho việc khai thác sân bay Long Thành."
    Nhưng trong giới chuyên gia ở Việt Nam, không ít người quan ngại về tính khả thi của kế hoạch chuyển các chuyến bay quốc tế đến sân bay Long Thành. Trả lời Tạp chí Hàng không ngày 21/04/2026, ông Nguyễn Ngọc Luận, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Kinh doanh khí miền Nam, cho rằng các hãng hàng không Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải khai thác một phần các chuyến bay quốc tế tại sân bay Long Thành trong thời gian tới.
    Phương án khả dĩ hơn theo ông là trước mắt chỉ chuyển từ Tân Sơn Nhất về Long Thành các hãng hàng không nước ngoài có chặng đến và đi quốc tế (không khai thác quốc nội). Khách bay quốc tế các chặng này sẽ tự nối chuyến bằng xe hơi. Tuy nhiên phương án này lại chưa thuận tiện cho hành khách nối chuyến trong thời gian đầu do kết nối giao thông giữa hai sân bay chưa hoàn thiện. 
    Nếu hạ cánh tại sân bay Long Thành mà muốn đi tiếp quốc nội thì hành khách phải đón xe về Tân Sơn Nhất (mất có khi đến 2 tiếng), cho nên khách từ nhiều nước có có thể sẽ chọn bay với hãng khác (như Thai Airways hay Singapore Airlines) quá cảnh tại Bangkok/Singapore để từ đó bay thẳng đến các điểm du lịch của Việt Nam.
    Về phần tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, ông nêu bật những thiệt hại của kế hoạch chuyển các chuyến bay đến Long Thành quá sớm:
    "Đó là vấn đề rất quan trọng mà người ta không suy nghĩ đúng mức về mặt thiệt hại kinh tế xã hội nếu như cưỡng ép những chuyến bay đang có thể hoạt động tại Tân Sơn Nhất ra Long Thành. Tôi có thể nói bất cứ người khách nào hiện đang sử dụng Tân Sơn Nhất mà bị ép buộc phải ra Long Thành, thì chắc chắn họ không muốn.
    Bao giờ Tân Sơn Nhất quá tải, cái đó là do các hãng hàng không quyết định : Nếu họ thấy tìm thêm slot để mở chuyến bay không có, Tân Sơn Nhất hết chỗ rồi, thì họ sẽ mở slot mới bên sân bay mới và nếu có đủ khách họ mới mở chuyến bay đó. Tôi nghĩ việc thực hiện những chuyến bay ở Long Thành phải để cho tự nhiên xảy ra, chứ không phải bằng mệnh lệnh hành chánh, điều hành khách từ sân bay này sang sân bay khác.
    Việc quản lý các sân bay Việt Nam rất vô lý, tập trung thành một công ty gọi là Tổng công ty Hàng không Việt Nam ACV, một công ty quản lý và có quyền điều động mọi thứ với nhau, rất là vô lý. Đơn cử bên Úc, họ xây một sân bay thứ nhì của Sydney, câu hỏi đặt ra là ai quản lý sân bay thứ nhì đó? Người ta bảo ưu tiên cho sân bay thứ nhất, nếu muốn, họ quản lý luôn sân bay thứ nhì. Nhưng họ đã từ chối, chỉ quản lý sân bay Kingsford Smith thôi. Cho nên người ta mới thành lập một cơ quan quản lý sân bay Sydney thứ nhì. Có nghĩa hai sân bay độc lập, bổ sung cho nhau, nhưng cạnh tranh với nhau. Và như vậy các hãng máy bay cảm thấy sân bay mới có thuận lợi gì thì họ đăng ký sử dụng sân bay đó.
    Sân bay Long Thành hiện nay cũng thông báo có nhiều hãng máy đăng ký để sử dụng. Nếu đó là đăng ký một tự nguyện thì tốt và nếu thời gian hoạt động mà có lợi người ta sẽ tăng dần cái chuyến bay tại Long Thành. Còn nếu không có lợi thì số lượng hành khách Long Thành sẽ ít và tôi nghĩ, nếu hay thì nó sẽ tăng từ từ một cách tự nhiên. Với tinh thần đó thì không có gì phải gấp rút. Hiện nay tôi thấy nó vô lý ở chỗ là có vẻ họ vẫn dùng mệnh lệnh nhà nước của thời kỳ mấy chục năm trước. Tôi cho rằng bắt buộc toàn bộ hay phần lớn các chuyến bay quốc tế dời ra Long Thành sẽ gây thiệt hại cho hãng hàng không và gây thiệt hại cho hành khách tại sân bay Tân Sơn Nhất, gây thiệt hại cho nền kinh tế."
    Ngoài ra theo trang mạng The Traveler trong bài viết đăng ngày 23/06/2026, các chuyên gia theo dõi ngành hàng không Việt Nam nhận định “tiến độ dự án Long Thành hiện rất sít sao, hầu như không còn biên độ dự phòng cho các sự cố do thời tiết, tắc nghẽn nguồn cung,  hay thay đổi thiết kế. Dù tiến độ thi công thường được báo cáo dưới dạng phần trăm hoàn thành, giới quan sát cảnh báo rằng những hạng mục phức tạp nhất – bao gồm hoàn thiện nội thất, tích hợp hệ thống và chứng nhận an toàn – vẫn còn ở phía trước và thường tiềm ẩn rủi ro chậm trễ cao hơn.”
    Cũng theo The Traveler, "những lo ngại về nguy cơ chậm tiến độ càng gia tăng do các thách thức về chi phí và công tác đấu thầu (... ). Mặc dù các cơ quan chức năng liên tục khẳng định quyết tâm hoàn thành dự án vào mốc thời gian năm 2026, nhưng ngân sách hạn hẹp cùng các thỏa thuận hợp đồng phức tạp làm tăng khả năng xảy ra tranh chấp, thay đổi thiết kế hoặc các yêu cầu phát sinh; những yếu tố này có thể gây chậm trễ cho một số hạng mục quan trọng của dự án." 
    Số vốn đầu tư lên đến 16  tỷ đôla cho sân bay Long Thành cũng đã bị chỉ trích và ngay chính tổng bí thư Tô Lâm cũng đã nêu vấn đề này trong một bài phát biểu tại một hội nghị ngày 25/02/2026: “Nếu quy mô 16 tỷ đôla thì kinh khủng. Nhưng tôi hỏi có vượt trội hơn được Malaysia và Singapore thì không chứng minh được. Tôi hỏi bao lâu thu hồi được vốn cho nhà nước cũng không trả lời được. Tôi hỏi sân bay Long Thành này mỗi năm đóng góp cho tăng trưởng kinh tế là bao nhiêu cũng không tính toán được.”  Theo ông Tô Lâm, chính vì vậy dự án này dễ "nảy sinh ra lãng phí, tiêu cực, thậm chí thất thoát".
    Theo trang mạng The Traveler, công tác phòng chống tham nhũng cũng làm phức tạp thêm cho dự án. Các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn có thể làm chậm quá trình ra quyết định hoặc phê duyệt do phải rà soát lại hồ sơ, đặc biệt là đối với các hạng mục thay đổi hoặc phát sinh thường xuất hiện ở giai đoạn sau của quá trình thi công. 
    The Traveler cũng ghi nhận hạ tầng kết nối giao thông chưa bắt kịp tiến độ của sân bay mới. Ngay cả khi các hạng mục cốt lõi của sân bay hoàn thành đúng hạn, vẫn còn đó những câu hỏi về khả năng tiếp cận sân bay Long Thành từ TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Nếu hạ tầng giao thông mặt đất không hoàn thiện kịp thời, những hành khách đầu tiên sử dụng sân bay Long Thành có thể phải đối mặt với thời gian di chuyển dài và khó lường, làm giảm đi lợi thế về sự thuận tiện mà sân bay này hứa hẹn mang lại.
    Về phần mình, ông Nguyễn Thiện Tống cũng nhấn mạnh đến những bất cập về kết nối giao thông với sân bay Long Thành:
    "Ngay cả kết nối tốt, nghĩa là có các đường cao tốc, có metro kết nối tốt, thì vẫn là tốn thời gian nếu như xét từ Thành phố Hồ Chí Minh, tạo ra sự bất lợi cho hàng không. Vì khoảng đường xa mà hiện nay kết nối không đầy đủ thì nguy cơ kẹt xe, nguy cơ chậm chuyến bay rất là cao. Không ai bảo đảm được giờ chính xác để đi ra sân bay, cũng như đi về. Đi trễ thì máy bay bay mất mà những hành khách bị kẹt xe và sẽ bị thiệt hại rất lớn.
    Nguy cơ kết nối không tốt làm cho hành khách không sử dụng sân bay có thể đưa đến viễn cảnh sân bay xây dựng hoành tráng mà trở thành lãng phí. Làm metro mà đến năm 2030 mới được hoạt động được, thế thì 3 năm không có phương tiện kết nối metro thì làm sao mà Long Thành thuận lợi được. Đường bộ thì bây giờ mới bắt đầu mở rộng và tốn rất nhiều tiền nhưng không chắc bảo đảm rằng thời gian đi ra Long Thành là vừa phải để không bị trễ chuyến bay.
    Không lo trước kết nối là sai lầm rất lớn khi xây sân bay Long Thành. Và bây giờ đã lỡ như vậy rồi thì càng không nên thúc hối sân bay Long Thành quá nhanh. Nếu mà chậm sân bay Long Thành chừng nào thì kết nối sẽ được thời gian để mà hoàn thiện, để phát triển nhanh lên chừng đó. Hiện nay việc kết nối chưa đầy đủ, tiến độ xây dựng không kịp thời mà thúc hối nhanh là một chuyện rất không hợp lý.
    Rồi xây nhà ga rất là lớn, diện tích quá nhiều. Chưa hết: kế hoạch ban đầu xây một đường băng thôi lại thúc hối để chính phủ ra quyết định làm thêm đường băng thứ nhì nữa là rất là lãng phí. Nói rằng dự phòng nếu trục trặc đường băng thứ nhất thì sử dụng đường băng thứ nhì. Rất là sai. Bởi vì nếu có trục trặc gì trong vấn đề cất cánh thì máy bay nằm đó chờ hoặc hủy chuyến bay. Còn hạ cánh có thể hạ cánh sân bay gần nhất là Tân Sơn Nhất. Không cần phải xây dựng đường băng mà lãng phí. Rất là lạ lùng.
    Phải nói là từ đầu thiết kế một sân bay hoành tráng quy mô lớn như vậy mà không tính toán, để rồi nửa chừng thi công giai đoạn 1 lại bổ sung làm thêm đường băng thứ nhì, quyết định một cách tôi cho rằng rất là cẩu thả, rất là lãng phí."
    Về hệ thống giao thông kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với sân bay Long Thành, ngày 30/06 vừa qua, thành phố Đồng Nai đã khởi công xây dựng hai tuyến đường là Đường vành đai 4 dài hơn 46 km và Đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh dài 15,5 km. Nhưng hiện chưa biết khi nào những công trình này sẽ hoàn thành.
    Về metro thì chính quyền TP Hồ Chí Minh đã công bố kế hoạch khởi công tuyến Thủ Thiêm - Sân bay Long Thành trước ngày 02/09, dự kiến đến năm 2030 sẽ hoàn thành. Nhưng ai cũng biết dự án metro rất phức tạp, khó mà bảo đảm tiến độ đề ra. 
    Trước mắt, trục lộ duy nhất đi từ TP Hồ Chí Minh đến sân bay là cao tốc TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây vẫn thường xuyên bị kẹt xe nghiêm trọng. Hiện giờ đoạn từ TP Hồ Chí Minh đến Long Thành đang được mở rộng.
    Để giảm bớt sự phụ thuộc độc đạo vào trục cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, mạng lưới hạ tầng kết nối xung quanh sân bay cũng đang được các địa phương gấp rút xây dựng, cụ thể là 2 tuyến đường dẫn kết nối trực tiếp T1 và T2 (dài hơn 11 km nối từ QL51 vào đến trung tâm nhà ga sân bay).
  • Ba cuộc điều tra của Mỹ và tác động đến thương mại với Việt Nam

    2026-06-29
    Việt Nam là đối tượng ba cuộc điều tra chỉ trong vài tháng theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 của Mỹ: sản xuất dư thừa, lao động cưỡng bức, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, theo VOV, Mỹ mở 82 cuộc điều tra phòng vệ thương mại với Việt Nam, đứng đầu các nước điều tra (321 vụ tính đến hết tháng 05/2026). Những biện pháp này có thể dẫn đến “hành động khắc phục” trong bối cảnh thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ không ngừng tăng.
    Tại sao các cuộc điều tra lại được tiến hành vào thời điểm này ? Những biện pháp này của Mỹ sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam, cũng như đến mối quan hệ song phương ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon (Université catholique de Lyon) và Viện Đông Á (IAO), Trường Sư phạm Lyon tại Pháp (Ecole normale supérieure de Lyon).
    RFI : Việt Nam là đối tượng của ba cuộc điều tra của Mỹ (sản xuất dư thừa, lao động cưỡng bức, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ). Tại sao ba cuộc điều tra này lại được tiến hành vào thời điểm này ?
    Laurent Gédéon : Trước tình hình hiện nay, chúng ta nhìn lại một chút diễn biến. Ngày 16/05/2025, sau cuộc họp bộ trưởng APEC lần thứ 31 về thương mại tại Jeju (Hàn Quốc), bộ trưởng Công Thương Việt Nam khi đó là ông Nguyễn Hồng Diên, trưởng đoàn đàm phán Việt Nam, đã đàm phán với đại diện Thương Mại Mỹ Jamieson Greer. Hai bên thông báo đạt được thỏa thuận về các nguyên tắc, cách tiếp cận, định hướng nội dung và kế hoạch đàm phán nhằm hướng tới một hiệp định thương mại song phương.
    Tiếp đó, hai vòng đàm phán kỹ thuật được tổ chức tại Washington vào tháng 05 và tháng 06/2025. Đến tháng 10/2025, Việt Nam và Mỹ công bố bản tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ cho một hiệp định thương mại song phương công bằng và cân bằng.
    Tuy nhiên, sau nhiều tháng đàm phán, hai bên vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Các cuộc đàm phán vẫn bị đình trệ do những bất đồng quan trọng, đặc biệt là về tiếp cận thị trường và thặng dư thương mại rất lớn của Việt Nam với Mỹ, không ngừng gia tăng khi nhiều doanh nghiệp quốc tế chuyển hoạt động sản xuất sang Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu. Tình hình này càng trở nên đáng lo ngại hơn khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt 193 tỷ đô la năm 2025. Tuy nhiên, cán cân thương mại lại mất cân đối khi thâm hụt thương mại của Mỹ với Việt Nam tăng lên 178,2 tỷ đô la.
    Đây có thể là một trong những yếu tố giải thích cho việc Mỹ mở hai cuộc điều tra đầu tiên nhắm vào Việt Nam vào tháng 03/2026, theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, tập trung vào các hành vi thương mại không công bằng, (tình trạng dư thừa năng lực sản xuất và lao động cưỡng bức).
    Đọc thêmTrước nguy cơ Mỹ áp thuế, Việt Nam trấn áp mạnh nạn vi phạm bản quyền trực tuyến
    Đến ngày 29/05, ông Jamieson Greer thông báo cuộc điều tra thứ ba, cũng dựa trên Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, về chính sách bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam nhằm đánh giá tác động đối với thương mại Mỹ. Cuộc điều tra này có thể tạo cơ sở để Washington áp dụng thêm các biện pháp thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam. Quyết định của ông Greer được đưa ra sau báo cáo thường niên công bố ngày 30/04, trong đó, Việt Nam bị Mỹ chỉ định là « mối quan ngại lớn » và đặc biệt là bị xếp vào nhóm « Ngoại quốc ưu tiên » về quyền sở hữu trí tuệ. Đây là mức đánh giá nghiêm trọng nhất dành cho các quốc gia có những hành động và chính sách gây ảnh hưởng tiêu cực lớn đến quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ.
    Đây là lần đầu tiên sau 13 năm, Việt Nam bị đưa vào nhóm này. Việc bị xếp hạng cũng phản ánh quan điểm của Washington rằng Việt Nam chưa đạt được tiến triển đáng kể trong các cuộc đàm phán nhằm cải thiện việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
    Trong khi Trung Quốc, Ấn Độ, Chilê, Indonesia, Nga và Venezuela chỉ nằm trong « Danh sách giám sát ưu tiên », Việt Nam là quốc gia duy nhất thuộc nhóm « Ngoại quốc ưu tiên ».
    Bối cảnh kinh tế bất lợi và sự chậm trễ trong đàm phán buộc Washington gia tăng áp lực đối với Hà Nội. Cũng có thể do sắp đến cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ (tháng 11/2026), tổng thống Donald Trump cần những chiến thắng, cả về kinh tế lẫn quân sự, để thể hiện với cử tri của ông.
    RFI : Chính quyền Mỹ có thể sẽ đưa ra những biện pháp nào trong trường hợp Việt Nam bị cáo buộc ?
    Laurent Gédéon : Những phân tích trên cho thấy có nhiều khả năngchính quyền Trump sẽ gia tăng sức ép thương mại đối với Việt Nam do nền kinh tế Việt Nam, như đã đề cập, phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Trong bối cảnh đó, tổng thống Mỹ có thể có đủ cơ sở pháp lý để đơn phương áp đặt thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam, với lý do Việt Nam có những hành vi thương mại không công bằng.
    Tuy nhiên, đại diện Thương Mại Mỹ cho biết sẽ tham vấn tổng thống Donald Trump để đánh giá có cần áp dụng các « biện pháp khắc phục » hay không. Ông cũng nhấn mạnh quá trình này có thể kéo dài nhiều tháng. Trong một tuyên bố, ông cũng cho biết sẽ theo dõi liệu Việt Nam có chủ động giải quyết những quan ngại tồn tại lâu nay bằng các biện pháp « bền vững và đủ sức răn đe nhằm ngăn ngừa các vi phạm tương tự trong tương lai » hay không. Điều này cho thấy Hoa Kỳ hiện vẫn ưu tiên đàm phán và muốn duy trì quan hệ với Việt Nam, quốc gia được Washington xem là đối tác quan trọng trong bối cảnh địa-chính trị châu Á đang rất nhạy cảm và phức tạp.
    Đọc thêmViệt Nam có thể đáp ứng các yêu cầu của Mỹ trước khi mối quan hệ thương mại rạn nứt ?
    Cũng có khả năng Washington sẽ gây sức ép để Hà Nội ký Hiệp định Thương mại Đối ứng (Agreement on Reciprocal Trade - ART), tương tự như thỏa thuận giữa Mỹ và Malaysia. Một hiệp định như vậy có thể bao gồm các điều chỉnh về thuế quan, tăng cường hợp tác theo ngành và trong lĩnh vực quy định pháp lý, cũng như mở rộng khả năng tiếp cận thị trường của cả hai bên. Cần lưu ý rằng một trong những hệ quả của các hiệp định ART là tăng cường sự gắn kết giữa các đối tác với Hoa Kỳ, kể cả trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế Mỹ - Trung ngày càng gay gắt.
    Nhìn chung, Mỹ hoàn toàn có khả năng áp dụng các biện pháp bất lợi đối với Việt Nam, đặc biệt là thuế quan, nhưng trước mắt nhiều khả năng là Washington chưa hành động ngay, ưu tiên đàm phán và sẽ chờ.
    RFI : Những cuộc điều tra này, cũng như bất kỳ biện pháp trừng phạt nào nếu có từ Mỹ, có thể sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam ?
    Laurent Gédéon : Nếu các biện pháp trừng phạt được áp dụng, chúng sẽ gây tác động đáng kể đối với Việt Nam.
    Trước tiên, cần nhắc lại kể từ khi Hiệp định Thương mại song phương được ký năm 2000, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam đã tăng mạnh mẽ, từ 1 tỷ đô la năm 2001 lên 193 tỷ đô la năm 2025. Những con số này rất ấn tượng nhưng cần đặt chúng trong bối cảnh tổng thể. Dù Việt Nam đạt thặng dư thương mại song phương rất lớn với Mỹ, lên tới 178 tỷ đô la năm 2025 nhưng hàng hóa Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ (3.400 tỷ đô la) và chiếm khoảng 0,6% GDP của Mỹ. Những yếu tố này cho thấy Washington đang nắm lợi thế trong đàm phán với Hà Nội. Ngược lại, do nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu sang thị trường Mỹ (khoảng 27% tổng kim ngạch xuất khẩu), các biện pháp trả đũa thương mại từ Washington có thể gây tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam.
    Đọc thêmThương mại : Tách Mỹ hay rời Trung Quốc ? Việt Nam tìm cách cân bằng đôi bên
    Đó cũng là lý do Hà Nội đã phản ứng rất nhanh trước các quan ngại của Mỹ. Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam quyết tâm chống các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Ngày 07/05, chỉ một tuần sau khi Báo cáo của đại diện Thương Mại Mỹ được công bố, chính phủ Việt Nam đã phát động chiến dịch kéo dài một tháng nhằm xử lý các trang web vi phạm bản quyền, hàng giả và hành vi xâm phạm nhãn hiệu, với mục tiêu tăng 20% số vụ truy tố.
    Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam triển khai các biện pháp như vậy. Năm 2025, Hà Nội cũng tiến hành một chiến dịch tương tự ngay sau khi chính quyền Trump công bố mức thuế 46% đối với hàng hóa Việt Nam. Mức thuế này sau đó được giảm xuống còn 20% vào tháng 07/2025 và tiếp tục hạ xuống 10% vào tháng 02/2026 theo phán quyết của Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ.
    RFI : Như ông đã đề cập Việt Nam đã phản ứng thông qua tuyên bố và hành động. Trên thực tế, Việt Nam cần phản ứng và giải quyết tình hình này như thế nào ? Liệu các biện pháp mà Hoa Kỳ thực hiện có ảnh hưởng đến quan hệ giữa hai nước, vốn đã căng thẳng về vấn đề thâm hụt thương mại ?
    Laurent Gédéon : Quan hệ Mỹ - Việt trải qua nhiều biến động trong những tháng gần đây và nguy cơ Washington áp đặt các biện pháp trừng tài chính có thể khiến tình hình thêm phức tạp. Điều này đánh dấu sự thay đổi đáng kể so với năm 2023, dưới thời chính quyền Biden, quan hệ song phương đạt đến đỉnh cao với Đối tác chiến lược toàn diện.
    Dưới thời tổng thống Trump, Washington đảo ngược xu hướng bằng một loạt biện pháp thuế quan. Việt Nam phản đối cách tiếp cận này, đặc biệt là các mức thuế nhắm vào ngành nội thất - lĩnh vực có mức tăng trưởng nhanh và được Hà Nội ưu tiên phát triển.
    Theo phía Việt Nam, chính sách của Washington còn trở nên khó dự đoán do lập trường thiếu nhất quán của ông Trump. Trong khi đó, Việt Nam ở thế bất lợi vì phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sang Mỹ nhưng không có khả đưa ra các cam kết đầu tư lớn vào Mỹ như các nền kinh tế phát triển hơn (Nhật Bản, Hàn Quốc) để đổi lấy những nhượng bộ thương mại.
    Bên cạnh các bất đồng kinh tế, một số yếu tố chiến lược cũng làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ song phương.
    Mùa hè 2025, xuất hiện thông tin Việt Nam ký các hợp đồng lớn với Nga để mua các hệ thống phòng không, phòng thủ trên biển, bất chấp các lệnh trừng phạt quốc tế. Theo điều tra được báo New York Times công bố ngày 27/10/2025, Việt Nam mua của Nga một hệ thống tác chiến điện tử dành cho tiêm kích Su-35, có khả năng gây nhiễu và đánh lạc hướng tên lửa. Tổng trị giá các hợp đồng là khoảng 8 tỷ đô la, bao gồm 40 chiến đấu cơ mới.
    Yếu tố thứ hai là báo cáo của tổ chức phi chính phủ Project88, theo đó các nhà hoạch định quân sự Việt Nam đang bí mật chuẩn bị cho khả năng xảy ra một cuộc xâm lược từ Mỹ và các đồng minh, bất chấp việc hai nước đã nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác chiến lược toàn diện (ngang hàng với thỏa thuận giữa Việt Nam và Nga, Trung Quốc) và xác định Mỹ và Việt Nam là « những đối tác đáng tin cậy gắn kết bởi tình hữu nghị dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau ».
    Báo cáo của Project88 dựa trên một tài liệu nội bộ của Hải Quân Việt Nam trực thuộc bộ Quốc Phòng ban hành ngày 01/08/2024 với tiêu đề Kế hoạch xâm lược thứ hai của Mỹ. Tài liệu nhận định « nguy cơ chiến tranh với Việt Nam hiện còn thấp » nhưng cảnh báo :
    cần cảnh giác trước khả năng Mỹ và các đồng minh tạo ra một "cái cớ" để tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.
    Đọc thêmViệt Nam xích lại gần Mỹ nhưng vẫn nuôi ngờ vực chiến lược
    Văn bản cũng bày tỏ lo ngại về khả năng các thế lực bên ngoài kích động nổi dậy nhằm chống lại sự lãnh đạo của Nhà nước. Báo cáo cho rằng trong quá trình tăng cường năng lực răn đe đối với Trung Quốc, Mỹ có thể sử dụng các hình thức chiến tranh phi truyền thống, can thiệp quân sự hoặc thậm chí tiến hành các cuộc xâm lược quy mô lớn nhằm vào những nước bị coi là « rời khỏi quỹ đạo » của Washington. Những diễn biến gần đây tại Venezuela, Iran cũng như những đe dọa đối với Cuba càng làm gia tăng sự cảnh giác của giới lãnh đạo Việt Nam.
    Trong bối cảnh đó, nhiều khả năng Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách cân bằng, duy trì khoảng cách tương đối với Hoa Kỳ. Một dấu hiệu cho thấy xu hướng này là Hội nghị cấp cao "3+3" đầu tiên giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra ngày 16/03 với sự tham dự của các bộ trưởng Công An, Quốc Phòng và Ngoại Giao hai nước. Sau hội nghị, tổng bí thư Tô Lâm đã có cuộc gặp riêng với phái đoàn Trung Quốc. Đây là một mắt xích trong chuỗi tiếp xúc cấp cao giữa Bắc Kinh và Hà Nội kể từ tháng 10/2025, khi ông Tô Lâm gặp thủ tướng Trung Quốc Lý Cường bên lề cuộc duyệt binh tại Bắc Triều Tiên. Cuộc gặp này diễn ra chỉ một tháng sau cuộc gặp đầu tiên giữa ông Tô Lâm và tổng thống Mỹ Donald Trump và cho thấy Hà Nội vẫn mong muốn duy trì quan hệ chặt chẽ với Bắc Kinh nhằm củng cố vị thế của mình trước các sức ép từ Washington.
    RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp.
    Đọc thêmTô Lâm và canh bạc cải cách của Việt Nam trong sóng gió toàn cầu
  • Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than

    2026-06-22
    Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu.
    Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than. 
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á:
    “Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
    Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.” 
    Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.” 
    Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025.
    Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu:
    “Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác.
    Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa. 
    Gần đây nhiều người nói về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện.
    Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn…. 
    Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam."
    Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn. 
    Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”. 
    Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam”, làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải.
    Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận:
    “Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết.
    Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam." 
    Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính phủ Hà Nội đã phê duyệt "Đề án cập nhật triển khai tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng" (JETP).   Sau năm 2030, chính phủ yêu cầu không xây mới nhà máy điện than, đồng thời đàm phán đóng cửa với các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm, không thể chuyển đổi nhiên liệu và không thể đáp ứng lộ trình giảm thải khí nhà kính.
  • Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

    2026-06-15
    Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA.
    Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc.
    RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ?
    Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa.
    Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc.
    Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa.
    Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn.
    Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực
    Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực.
    Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng.
    Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác.
    Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng.
    RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ?
    Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương.
    Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất.
    Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng
    Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển.
    Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình.
    Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng.
    RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ?
    Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022.
    ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự.
    Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp.
    Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do
    Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc.
    Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn.
    RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ?
    Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao.
    Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện
    Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện.
    Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
  • Công ước Hà Nội và phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam

    2026-06-08
    Ngày 07/04/2026, tổng bí thư Đảng kiêm chủ tịch nước Tô Lâm đã ký quyết định phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và là nước thứ hai trên thế giới chính thức phê chuẩn Công ước này.
    Công ước mang tên Hà Nội là vì lễ ký Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2025. Cho tới nay đã có 75 quốc gia ký công ước này. Tuy nhiên, Công ước Hà Nội sẽ chỉ có hiệu lực một khi có đủ 40 quốc gia chính thức phê chuẩn để trở thành thành viên chính thức. 
    Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng trở thành một trong những trung tâm của tội phạm mạng trên thế giới. Trong một bài viết đăng trên mạng ngày 09/03/2026, công ty Okta, chuyên về quản lý danh tính ( Identity Management ), cho biết: “Một hệ sinh thái tội phạm mạng rộng lớn bắt nguồn từ Việt Nam đã được liên kết với các chiến dịch đăng ký tài khoản giả mạo quy mô lớn nhắm vào các nhà cung cấp dịch vụ và nền tảng trực tuyến trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu đã truy tìm hoạt động này đến một cụm cơ sở hạ tầng được đặt tên nội bộ là O-UNC-036, sử dụng địa chỉ email dùng một lần và bot tự động để tạo ra các danh tính kỹ thuật số giả mạo ở quy mô đáng báo động.”
    Theo công ty này, các tội phạm sử dụng những tài khoản trực tuyến gian lận như một cánh cửa để thực hiện các hoạt động tội phạm tài chính, từ thư rác và lừa đảo trực tuyến đến các vụ lừa đảo cá nhân. Các tổ chức tội phạm có tổ chức ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở khu vực gần biên giới Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Cam Bốt dùng những thủ đoạn này để dụ dỗ nạn nhân vào các vụ lừa đảo tiền điện tử, lừa đảo tình cảm và tống tiền tình dục,...
    Các nhà phân tích của Okta đã xác định được một lượng lớn các đăng ký tài khoản đáng ngờ liên kết với nhiều tên miền email dùng một lần, trở thành sợi dây liên kết quan trọng giữa hoạt động này với một thị trường lừa đảo rộng lớn hơn có trụ sở tại Việt Nam. Thiệt hại về tài chính từ hoạt động này là rất lớn. Trong một báo cáo tháng 4/2025, Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) đã chỉ ra rằng thị trường ngầm này hiện có những người chuyên buôn bán bộ công cụ lừa đảo, dữ liệu bị đánh cắp, phần mềm độc hại, công cụ dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dịch vụ rửa tiền được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các nạn nhân trên toàn cầu.
    Chính là để phòng chống những hoạt động lừa đảo trực tuyến như trên mà Công ước Hà Nội thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về phòng ngừa, phát hiện, điều tra, truy tố và hợp tác quốc tế trong xử lý tội phạm mạng.
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 22/05/2026, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), cho biết Việt Nam đã chuẩn bị như thế nào cho việc tham gia Công ước Hà Nội :
    "Thứ nhất là Việt Nam đã hoàn thiện khung pháp lý nội địa, đặc biệt là trong các lĩnh vực an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và xử lý chứng cứ điện tử. Có thể nói rằng trong những năm trở lại đây, Quốc Hội của Việt Nam và các cơ quan, trong đó có vai trò rất là lớn bộ Công An Việt Nam, đã điều chỉnh, bổ sung và ban hành các luật, khung pháp lý nội địa rất  kịp thời trong lĩnh vực an ninh mạng và xử lý điện tử, chứng cứ điện tử.
    Thứ hai là Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ trong việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật, đặc biệt là đào tạo chuyên sâu cho các lực lượng điều tra tội phạm công nghệ cao. Song song với đó, đầu tư vào các hệ thống cơ sở hạ tầng số cũng rất là ổn định để kịp thời trước lúc tham gia Công ước Hà Nội.
    Thứ ba là tăng cường hợp tác quốc tế thông qua các cơ chế song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia. Việt Nam không tham gia Công ước Hà Nội một cách hình thức mà đang từng bước thích nghi với các chuẩn mực toàn cầu về quản trị an ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao."
    Công ước Hà Nội quy định đầy đủ các vấn đề từ hình sự hóa hành vi phạm tội, thẩm quyền điều tra, dẫn độ, tương trợ tư pháp, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân.
    Các hành vi như truy cập trái phép, đánh cắp dữ liệu, gian lận điện tử, tấn công cơ sở hạ tầng trọng yếu, sử dụng không gian mạng để tài trợ khủng bố hay rửa tiền bằng tài sản số đều được định danh rõ ràng. Quan trọng hơn, Công ước tạo ra “chuẩn mực pháp lý chung”, giúp các quốc gia phối hợp hiệu quả trong xử lý các vụ án xuyên biên giới.
    Việc tham gia Công ước giúp Việt Nam có thêm công cụ pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích:
    "Công ước Hà Nội quy định rất toàn diện các vấn đề về hình sự hóa tội phạm mạng, thẩm quyền điều tra, hợp tác quốc tế, dẫn độ, hỗ trợ tư pháp và bảo vệ dữ liệu và cá nhân. Công ước mang lại cho Việt Nam một số công cụ pháp lý rất quan trọng, đáng chú ý ở đây là chia sẻ thông tin và chứng cứ điện tử nhanh hơn giữa các quốc gia. Có thể nói đây là một trong những    yếu tố then chốt trong điều tra tội phạm mạng xuyên biên giới.
    Ngoài ra, Công ước Hà Nội còn hỗ trợ cho phía Việt Nam và các cơ quan tư pháp hình sự của Việt Nam hài hòa các định nghĩa, các cách tiếp cận về pháp lý liên quan đến tội phạm mạng giữa các quốc gia. Thứ hai là tăng cường cơ chế tương trợ tư pháp và dẫn độ khi triển khai Công ước Hà Nội. Thứ ba là Công ước này sẽ hỗ trợ trực tiếp các cuộc điều tra chung.
    Khi được thông qua, Công ước Hà Nội sẽ có thêm cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý cụ thể và chính thống để tiến hành các cuộc điều tra chung, thành lập các đội điều tra chung ( investigation teams ) giữa các nước trong khu vực và thế giới, khi phát sinh các yếu tố liên quan đến phòng chống tội phạm mạng, đặc biệt là trong các vụ lừa đảo xuyên quốc gia và rửa tiền kỹ thuật số. Điều này giúp đáng kể khoảng trống pháp lý mà tội phạm mạng thường lợi dụng. Hiện nay không gian mạng rất khó kiểm soát và không có biên giới."
    Những công cụ mới mà Công ước Hà Nội mang lại sẽ tác động như thế nào đến việc phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải dự báo:
    "Ở đây ta có thể tiếp cận từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất là tác động của Công ước Hà Nội đối với Việt Nam. Góc độ thứ hai là tác động của Công ước Hà Nội đối với các đối tác của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
    Đầu tiên là trong nước, Công ước Hà Nội sẽ giúp cho Việt Nam, cụ thể là các cơ quan chức năng như bộ Công An hoặc bộ Thông Tin Truyền Thông, chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm mạng, vừa bám theo Công ước Hà Nội, vừa nội hóa các luật nội địa Việt Nam đã ban hành, ví dụ như Luật an ninh mạng và gần đây nhất là luật về trí tuệ nhân tạo AI. Nó sẽ giúp chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm liên quan đến không gian mạng, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thu thập chứng cứ điện tử, thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên dữ liệu và bằng chứng trong thực thi pháp luật của các cơ quan ở Việt Nam. 
    Cấp độ thứ hai là với các đối tác của Việt Nam trong khu vực ASEAN, cũng như các nước ngoài ASEAN, trong đó có Úc, Châu Âu, hay Mỹ. Ở cấp độ xuyên quốc gia, tác động sẽ rõ nét hơn. Công ước tạo nền tảng cho việc phối hợp hành động nhanh hơn giữa các quốc gia, đặc biệt là trong việc truy xét dòng tiền, xác định máy chủ và triệt phá các mạng lưới tội phạm hoạt động ở nhiều quốc gia cùng một lúc trên không gian mạng. Tuy nhiên ở đây tôi cũng cần lưu ý rằng hiệu quả thực sự sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ thực thi và niềm tin giữa các quốc gia. Bởi vì xây dựng niềm tin pháp lý, chia sẻ thông tin ở không gian mạng hiện nay có lúc vẫn bị nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đánh giá là những vấn đề nhạy cảm. Việc chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực và ngoài khu vực đều có những hạn chế nhất định. Thậm chí nhiều lúc chưa có sự tin tưởng một cách tuyệt đối."
    Trong việc phòng chống tội phạm mạng, Việt Nam từ nhiều năm qua vẫn có sự hỗ trợ của Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ). Tháng 5/2026, Cảnh sát Liên bang Úc đã phối hợp với bộ Công An Việt Nam và cảnh sát các nước Đông Nam Á khác tổ chức một hội thảo ở Đà Nẵng về nâng cao hợp tác giữa các bên trong lĩnh vực. Là một trong những người tham gia hội thảo, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải cho biết:
    "Hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ) có một hệ thống sĩ quan liên lạc cảnh sát quốc tế phủ rộng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Văn phòng Việt Nam đã mở hơn 20 năm nay. Có thể nói, theo đánh giá của cá nhân tôi, văn phòng đại diện sĩ quan liên lạc cảnh sát Úc ở Việt Nam đã đóng một vai trò rất lớn là một cầu nối quan trọng để kết nối lực lượng thực thi pháp luật của hai nước trong việc cập nhật, trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, xử lý, dẫn độ cũng như giải quyết các vụ án mang tính chất xuyên quốc gia.
    Sự kiện ở Đà Nẵng có ba nội dung trọng tâm mà hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc nâng cao hiệu quả hợp tác với đối tác Việt Nam. Thứ nhất là chia sẻ thông tin tình báo và dữ liệu tội phạm mạng, một trong những điểm rất quan trọng. Hội thảo vừa rồi cũng đánh giá cao sự chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực ASEAN và lực lượng cảnh sát Úc.
    Thứ hai là hỗ trợ đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật ở Việt Nam, thông qua nhiều kênh khác nhau, ví dụ như kênh về chương trình đào tạo quản lý lực lượng thực thi pháp luật khu vực châu Á - Thái Bình Dương, được tổ chức thường niên mỗi năm khoảng hai đến ba khóa, tùy vào các chủ đề liên quan đến tội phạm xuyên quốc gia. Những năm gần đây ưu tiên đặc biệt là các vụ lừa đảo scam qua mạng ( scam ) rất là nhiều. Qua kênh đào tạo này thì hiện đã có hơn 1000 cán bộ thực thi pháp luật, trong đó có nhiều cán bộ của Việt Nam đã được đào tạo cùng với các nước ASEAN và khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Chính điểm thứ hai này đã tạo ra được một lực lượng rất là thiện chiến trong phòng chống tội phạm mạng và các vấn đề liên quan đến an ninh mạng cho phía Việt Nam mà phía Úc đã hỗ trợ.
    Hợp tác thứ ba nữa mà tại diễn đàn này tôi cũng đã tập trung trao đổi, đó là chia sẻ những kinh nghiệm, phương thức, chiến thuật, các hoạt động phối hợp điều tra các vụ án xuyên biên giới, đặc biệt liên quan đến các vụ lừa đảo trực tuyến, rửa tiền số và bóc lột lao động trong các đường dây lừa đảo.
    Có thể nói trong bối cảnh Đông Nam Á đang nổi lên như một điểm nóng của các trung tâm lừa đảo xuyên quốc gia, hợp tác Việt Nam và Cảnh sát Liên bang Úc đóng một cái vai trò quan trọng không chỉ ở khía cạnh thực thi pháp luật, mà còn trong việc chia sẻ các kinh nghiệm thực chiến và xây dựng các chiến lược phòng ngừa mang tính nhất dài hạn."
About Tạp chí Việt Nam
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website