PodcastsTạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam
Latest episode

74 episodes

  • Khủng hoảng Trung Đông : Cơ hội cho hợp tác khai thác dầu khí Việt-Trung ở Biển Đông?

    2026-05-18
    Khoảng 88% tổng lượng dầu thô nhập khẩu của Việt Nam được nhập từ vùng Vịnh Ba Tư, chỉ đứng sau Philippines (95%) và đứng trước các nước Malaysia (69%), Thái Lan (59%) và Singapore (52%), theo Ngân hàng Đầu tư Maybank (1). Kuwait là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 80% tổng lượng nhập khẩu. Khoảng 49% khối lượng khí hóa lỏng LNG nhập khẩu của Việt Nam cũng có xuất xứ từ Vùng Vịnh (2).
    Sự phụ thuộc nghiêm trọng vào gần như một nước, một khu vực vẫn được coi là “chảo lửa” Trung Đông, được phản ánh rõ trong cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz.  Ngoài ra, Việt Nam có kho dự trữ dầu chiến lược nhỏ nhất Đông Nam Á, trong khi việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả.
    Đọc thêmViệt Nam đối mặt với tình trạng thiếu xăng dầu vì nguồn cung ứng bị gián đoạn
    Theo một tài liệu của bộ Công Thương, được Reuters trích dẫn ngày 18/03/2026, Việt Nam cũng phải đối mặt với việc các mỏ dầu ngoài khơi đang dần cạn kiệt, khiến sản lượng dầu thô nội địa dự kiến ​​sẽ bị giảm trong thập niên này, chỉ còn khoảng 5,8 đến 8 triệu tấn/năm, thấp hơn mức bình quân 8,6 triệu tấn của 5 năm gần nhất. Do đó, Việt Nam có nguy cơ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn nhập khẩu dầu lửa do hệ thống lọc dầu cần lượng nguyên liệu lớn hơn rất nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn ở trong nước.
    UNCLOS nói gì về khai thác dầu khí trong vùng tranh chấp chủ quyền ?
    Về lâu dài, Việt Nam dự trù tăng cường hoạt động thăm dò, trong đó có việc đưa ra các ưu đãi cho các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào các mỏ ngoài khơi. Mục tiêu là nâng cao trữ lượng có thể khai thác thêm 13 triệu đến 17 triệu tấn dầu thô mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030. Khủng hoảng năng lượng ở Trung Đông đã thúc đẩy Philippines nêu khả năng thăm dò dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền. Liệu Việt Nam có làm như vậy với Trung Quốc ?
    Thực ra, ngay năm 2005, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đã có thỏa thuận ba bên về “Khảo sát Địa chấn biển chung” (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008. Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt, giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon, nhận định : “Cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng”.
    Đọc thêmViệt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông?
    Ý định này vẫn chỉ nằm trên giấy tờ vì những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông, cho dù bị vô hiệu hóa trong phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) La Haye. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời, theo giải thích của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon :
    “Theo luật quốc tế, khi nhiều quốc gia cùng tuyên bố chủ quyền đối với một vùng biển (vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa chồng lấn), Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 quy định nghĩa vụ hợp tác. Thông qua Điều 74 và 83, Công ước quy định các quốc gia phải đàm phán thiện chí để đạt được sự phân định công bằng và không được làm tổn hại hoặc cản trở một thỏa thuận trong tương lai. Cụ thể, điều này có nghĩa là việc khai thác dầu khí đơn phương tiềm ẩn rủi ro pháp lý tại khu vực tranh chấp giữa nhiều quốc gia theo luật quốc tế.
    Công ước cũng khuyến khích các giải pháp tạm thời. Công ước quy định các quốc gia có thể ký kết các thỏa thuận tạm thời mang tính thực tiễn trong khi chờ phân định cuối cùng. Chính trong khuôn khổ pháp lý này mà các khu vực phát triển chung về dầu khí đang được phát triển.
    Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Công ước không đề cập đến phương pháp cần tuân theo. Do đó, Công ước không định nghĩa một cơ chế tiêu chuẩn cho việc quản lý chung dầu khí, cũng không thiết lập các quy tắc chia sẻ doanh thu hoặc quản trị, cũng không tạo ra một thể chế cụ thể cho các khu vực tranh chấp này. Do đó, các phương thức cụ thể (chia sẻ, thuế, nhà điều hành…) hoàn toàn được đàm phán song phương hoặc trong khu vực giữa các quốc gia”.
    Đọc thêmViệt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông như nào ?
    Tiền lệ về gác tranh chấp chủ quyền để cùng thăm dò khai thác
    Trường hợp tranh chấp chủ quyền trên biển nhưng vẫn hợp tác khai thác dầu khí không phải là hiếm trên thế giới, theo nhà nghiên cứu Laurent Gédéon :
    “Hai mô hình khu vực phát triển chung có thể được nêu ra làm ví dụ để các bên ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, có thể tham khảo. Thứ nhất là Khu vực Phát triển Chung Nigeria-São Tomé và Príncipe (Nigeria-São Tomé and Príncipe Joint Development Zone), liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí trong vùng biển mà cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền ở Vịnh Guinea. Thứ hai là Khu vực Phát triển Chung Malaysia-Thái Lan (Malaysia-Thailand Joint Development Area, MTJDA), liên quan đến việc khai thác khí đốt tự nhiên trong khu vực tranh chấp giữa Malaysia và Thái Lan, nằm ở Vịnh Thái Lan.
    Có thể thấy rõ rằng bất chấp những khó khăn, sự hợp tác giữa các bên tuyên bố có quyền về dầu khí ở Biển Đông là khả thi và có thể được thực hiện phù hợp với cả luật pháp quốc tế và luật pháp quốc gia”.
    Bãi Tư Chính : Việt Nam khẳng định chủ quyền nhưng không khai thác được
    Tài nguyên dầu khí của Việt Nam tập trung quanh bãi Tư Chính (Vanguard Bank), chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng của đất nước. Hà Nội khẳng định khu vực nhà giàn DK1, trong đó có bãi Tư Chính, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam và là thềm lục địa phía nam Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với UNCLOS 1982. Vùng biển này không tranh chấp với nước nào, và lại càng không tranh chấp với Trung Quốc.
    Ngược lại, Bắc Kinh và Đài Bắc cho rằng bãi Tư Chính thuộc quần đảo Trường Sa, đang có tranh chấp chủ quyền. Trung Quốc thường xuyên tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực. Tháng 07/2017, tập đoàn Repsol của Tây Ban Nha phải ngừng hoạt động thăm dò khí đốt tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở khu vực bãi Tư Chính. Trong suốt ba tuần tháng 07/2019, Trung Quốc đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8), được nhiều tàu hải cảnh và dân quân biển hộ tống, xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính. Hoạt động gây rối này tái diễn trong những năm 2023, 2024.
    Đọc thêmBãi Tư Chính : Việt Nam nên để ngỏ khả năng kiện Trung Quốc
    Song song với việc “quấy rối” hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam và tiếp tục đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, từ năm 2017, Trung Quốc cũng “tích cực” đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Việt Nam và Philippines. Động cơ đằng sau đề xuất này là gì ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon giải thích :
    “Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược. Về kinh tế, việc khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông cho phép Trung Quốc đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng tăng. Hơn nữa, bất kỳ động thái hội nhập khu vực nào cũng nằm trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), do Bắc Kinh khởi xướng và có hiệu lực từ tháng 01/2022.
    Về mặt địa-chiến lược, các sáng kiến ​​chung với các quốc gia giáp Biển Đông cho phép Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp tác với những nước này. Về lâu dài, sự gần gũi đó có thể góp phần làm suy yếu mối quan hệ giữa các quốc gia này với Hoa Kỳ và từ đó củng cố vị thế của Bắc Kinh trong bối cảnh cạnh tranh Trung-Mỹ”.
    Những bị động do phụ thuộc quá lớn vào nguồn cung năng lượng Trung Đông có khiến Hà Nội thay đổi quan điểm về thỏa thuận khai thác chung và chia sẻ công bằng nguồn năng lượng ở Biển Đông không ? Liệu có khả năng Việt Nam và Trung Quốc hợp tác trong tương lai gần hay không ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon nhận định :
    “Có khả năng hợp tác cho dù hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, không từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ bởi vì Việt Nam có những lập luận bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, nhưng họ có thể gác lại khía cạnh chủ quyền này hoặc đồng ý gác lại để tập trung vào các cơ chế thực tế để quản lý tài nguyên mà trong trường hợp này, là quản lý tài nguyên dầu mỏ.
    Đúng là nhiều nguồn tài nguyên đang được khai thác, và một số đang gần cạn kiệt. Nhưng không phải tất cả các nguồn tài nguyên ở Biển Đông đều đã được xác định. Trong khuôn khổ quản lý thực tiễn chung các nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, có thể sẽ có các đợt thăm dò chung nhằm xác định các mỏ dầu khí hoặc khí đốt tự nhiên mới, sau đó sẽ được khai thác và chia sẻ chung.
    Đọc thêmViệt Nam, Malaysia, Philippines: Gác tranh chấp, chống Trung Quốc ở Biển Đông?
    Thực tế cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ Trung Đông. Nhìn vào tình hình bất ổn hiện nay ở Trung Đông, đặc biệt là những khó khăn do các “điểm kiểm soát” - tức là các eo biển chiến lược - gây ra thì hiện giờ đang có rất nhiều tranh luận liên quan đến eo biển Hormuz, đang bị cả Iran và Mỹ phong tỏa.
    Ngoài ra còn phải nhắc đến eo biển Malacca, một eo biển nhạy cảm, nơi trung chuyển một phần rất lớn dầu mỏ dành cho các nước ở Đông Nam Á và và Đông Bắc Á. Vì vậy, sự phụ thuộc vào các đặc điểm địa lý có thể trở nên rất nhạy cảm từ góc độ địa-chính trị, đang thúc đẩy Việt Nam tìm cách xác định các nguồn tài nguyên dầu mỏ có thể khai thác được mà không cần đi qua những nơi tiềm ẩn nhiều vấn đề từ góc độ địa-chính trị như vậy”.
    Để có thể đi đến một quyết định, chắc chắn sẽ gây tranh cãi, nhưng mang tính thiết yếu cho nguồn cung năng lượng Việt Nam Nam, nhà nghiên cứu Laurent Gédéon cho răng, “các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mỗi bên”.
    (1) ASEAN countries exposed by Middle East oil dependence
    (2) The Middle East Crisis and Southeast Asia’s Energy Vulnerability
  • Việt Nam, Vatican tiến gần hơn bao giờ hết đến bình thường hóa bang giao

    2026-05-11
    Ngày 11/04/2026, nhân chuyến thăm chính thức Tòa Thánh, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã chuyển bức thư của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Tô Lâm mời giáo hoàng Lêô XIV đến thăm chính thức Việt Nam “trong thời gian tới”.
    Chưa biết chuyến thăm đầu tiên của một giáo hoàng tại Việt Nam sẽ diễn ra vào lúc nào, nhưng lời mời của ông Tô Lâm đánh dấu một bước mới trong quan hệ giữa Hà Nội và Vatican, cho thấy hai bên tiến gần hơn bao giờ hết đến bình thường hóa bang giao, bị gián đoạn từ cách đây hơn 50 năm. 
    RFI Tiếng Việt phỏng vấn giảng viên lịch sử Đông Nam Á Trần Thị Liên Claire, chuyên gia về lịch sử Công Giáo Việt Nam, Đại học Paris Cité.
    RFI: Xin chào bà Trần Thị Liên Claire. Trước hết bà đánh giá như thế nào về lời của ông Tô Lâm gởi cho giáo hoàng Lêô XIV? Tác động của chuyến thăm này đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam sẽ như thế nào?
    Trần Thị Liên Claire: “Lời mời của chủ tịch nước kiêm tổng bí thư đảng Tô Lâm thực sự rất quan trọng, nhưng đây không phải là lần đầu tiên, vì chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã từng mời giáo hoàng Phanxicô vào tháng 12/2023, nhưng chuyến thăm đã không thể được thực hiện. Lời mời này thực sự là một phần của mối quan hệ ngoại giao đang phát triển giữa Việt Nam và Vatican. Đã có rất nhiều chuyến thăm chính thức của các đại diện cấp cao nhất của Việt Nam tại Roma, gồm cả tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng. Năm ngoái, phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đã đến thăm Vatican vào tháng 6. Vì vậy, đây thực sự là một điều đã được duy trì trong nhiều năm.
    Đối với người Việt Nam, chuyến thăm này đã được mong đợi từ rất lâu. Mọi người đã nghĩ rằng khi đi thăm Indonesia và Singapore vào năm ngoái, giáo hoàng Phanxicô sẽ đến Việt Nam, nhưng chuyến đi đó đã không diễn do tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời và quá trình kế nhiệm phải mất một thời gian.
    Các Giáo hoàng đã đến thăm tất cả các nước châu Á khác mà chưa thăm Việt Nam, trong khi Việt Nam có một trong những cộng đồng Công Giáo lớn nhất tính về tỷ lệ phần trăm. Vì vậy, chuyến thăm của giáo hoàng thực sự là một tín hiệu vô cùng quan trọng đối với Việt Nam, và nhất là là đối với người Công Giáo Việt Nam. Thậm chí tôi có thể nói, chuyến thăm này mang tính biểu tượng không chỉ đối với người Công Giáo mà còn đối với toàn thể người dân Việt Nam, bởi vì trong một thời gian rất dài, các nhà cầm quyền, dù là vào thời phong kiến hay dưới chế độ Cộng sản, thường nhìn thiểu số Công giáo Việt Nam với sự nghi ngờ, và ngược lại, các nhà cầm quyền lại bị coi là chống Công Giáo. Vì vậy, chuyến thăm này sẽ thực sự chấm dứt những nghi ngờ từ cả hai phía và mở ra một chương mới trong lịch sử Việt Nam và lịch sử Giáo hội tại Việt Nam. Chắc chắn là như vậy.” 
    RFI: Theo bà thì lời mời giáo hoàng Lêô XIV sang thăm Việt Nam có sẽ thúc đẩy tiến trình bình thường hóa giữa Hà Nội với Vatican?
    Trần Thị Liên Claire: “Cả hai phía Vatican và Hà Nội đều đã nỗ lực làm việc trong một thời gian dài cho quá trình bình thường hóa quan hệ, vốn đã bị cắt đứt từ năm 1975. Các nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam - Tòa Thánh đã họp từ năm 2009. Họ họp hàng năm, khi thì ở Roma, khi thì ở Hà Nội. Nhóm này đã hoàn tất cuộc họp thứ 13 và đang giải quyết nhiều vấn đề. Trước hết là vấn đề bổ nhiệm các giám mục, rồi đến vấn đề nhà đất của Giáo hội. Có nhiều chủ đề quan trọng khác như giáo dục và thành lập trường đại học Công giáo, nhưng một trong những chủ đề chính của nhóm công tác hỗn hợp là tái lập quan hệ ngoại giao. 
    Lời mời giáo hoàng thăm Việt Nam là một dấu hiệu của việc hai bên sắp tái lập bang giao, dù nó diễn ra trước hay sau chuyến thăm. Dầu sao thì chuyến thăm chắc chắn sẽ diễn ra vào cuối năm 2026 hoặc năm 2027, vì lời mời này trùng với Ngày Giới trẻ Thế giới, dự kiến ​​diễn ra vào tháng 8/ 2027 tại Seoul. Hơn nữa, kể từ năm 2024, đã có một đại diện thường trú của giáo hoàng ở Việt Nam, tuy chưa phải là sứ thần, đó là Đức ông Marek Zalewski, trước đây là đại diện không thường trú của giáo hoàng tại Việt Nam, trú tại Singapore.
    Đây thực sự sẽ là một sự kiện lớn: Việt Nam sẽ là quốc gia Cộng sản duy nhất ở châu Á có sứ thần Tòa Thánh và thiết lập quan hệ chính thức với Vatican. Dường như Hồng y Parolin, Quốc vụ khanh của Vatican, giống như là thủ tướng của Tòa Thánh, hiểu rất rõ về Việt Nam. Ngài đã đến Việt Nam từ năm 2009 để quản lý quan hệ giữa hai bên và dường như sẽ đến thăm Việt Nam trong năm 2026. Ngài thực sự là người kiến ​​tạo nên mối quan hệ này. Hồng y Parolin thường nói Việt Nam và tình trạng quan hệ giữa hai bên thực sự là một kiểu mẫu, thậm chí là kiểu mẫu cho quan hệ ngoại giao tương lai với Trung Quốc.
    Việt Nam thực sự là một điển hình về khả năng hiểu biết nhau và khả năng đối thoại từ cả hai phía, cho dù hai bên không phải lúc nào cũng đồng ý về một số điểm. Thực sự đã có một khả năng đối thoại được phát triển kể từ năm 2009, và đây là kết quả của một thời gian dài gặp gỡ và đàm phán, là kết quả của các ê kíp ngoại giao Việt Nam - Tòa Thánh và đặc biệt là của Hồng y Parolin.” 
    RFI: Thưa bà, trong quan hệ giữa Việt Nam với Vatican hiện nay, còn những vấn đề nào cần được giải quyết để khai thông mọi bế tắc còn cản trở việc bình thường hóa bang giao?
    Trần Thị Liên Claire: “Đúng là quan hệ giữa hai bên không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Năm 2025 là giai đoạn rất bất ổn, với việc chủ tịch nước Võ Văn Thưởng mất chức và trước đó là cái chết của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, dẫn đến việc cựu bộ trưởng công an Tô Lâm lên nắm quyền. Tất nhiên mọi chuyện không hoàn toàn dễ dàng trong quan hệ giữa Việt Nam với Tòa Thánh, cả hai phía đều giải quyết vấn đề không phải một cách toàn diện, mà là một cách thực dụng và theo từng trường hợp cụ thể. Vấn đề nhà đất thực sự được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể và tất nhiên là không phải ở mọi nơi. Vấn đề bổ nhiệm các giám mục thì theo một quy trình nay đã trôi chảy. Cụ thể, Vatican đề xuất tên của ba vị và sau đó chính phủ sẽ chọn một trong ba vị đó. Vì vậy, về điểm này, họ đã đạt được tiến bộ đáng kể. 
    Vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng chính sự hiện diện thường trực của một đại diện Tòa Thánh đã góp phần rất lớn vào việc cải thiện đối thoại. Đối với chính phủ Việt Nam, mong muốn của họ chính là thể hiện mình là một cường quốc tầm trung đáng nể, có khả năng đàm phán với Vatican và, theo một cách nào đó, đảm bảo rằng người Công Giáo luôn trung thành với chính quyền, đặc biệt là thông qua các mối quan hệ chính thức này. Vatican thì tìm cách duy trì mối quan hệ tốt để cộng đồng thiểu số Công Giáo, chiếm 7% dân số, có những điều kiện tốt nhất có thể cho việc thực hành tôn giáo trong một quốc gia Cộng sản.”
    RFI: Theo bà, Giáo hội Việt Nam có tầm quan trọng như thế nào đối với Tòa Thánh, nhất là nếu hai bên tiến tới tái lập quan hệ ngoại giao?
    Trần Thị Liên Claire: Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người Công giáo tuy không bằng các nước Mỹ Latinh hay một số nước châu Phi, nhưng đứng hàng thứ tư châu Á sau Đông Timor (98%), Philippines (80%) và Hàn Quốc (11,3%), cao hơn đáng kể so với Trung Quốc (1%). Hơn nữa, Giáo hội ở Việt Nam cũng là một trong những Giáo hội năng động nhất, với số giáo sĩ thuộc hàng đông đảo nhất châu Á.
    Vì vậy, Việt Nam thực sự rất quan trọng đối với Vatican, và như tôi đã nói, đó cũng là một dạng thử nghiệm cho quan hệ giữa Tòa Thánh với Trung Quốc, vốn phức tạp hơn nhiều. Vatican rất coi trọng kinh nghiệm về quan hệ với Việt Nam và về sự thành công, nếu họ thiết lập được quan hệ ngoại giao. 
    Tất nhiên, mọi việc vẫn chưa ngã ngũ, chúng ta vẫn phải xem điều gì sẽ xảy ra trong hai năm 2026-2027. Nhưng lời mời tổng bí thư và tân chủ tịch nước Tô Lâm rất quan trọng, nhất là vì chúng tôi thấy việc ông thâu tóm quyền hành đã gặp khó khăn hơn dự kiến, và chúng tôi không biết liệu điều đó có ảnh hưởng đến mối quan hệ này hay không. 
    Thực tế chúng ta có thể thấy rõ kể từ năm 2009, bất chấp mọi thay đổi và đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động, hai nhóm nhà ngoại giao tại Hà Nội và Roma đã gặp gỡ thường xuyên và xây dựng được năng lực đối thoại rất tốt. Điều này khá độc đáo đối với Việt Nam, không như các nước cộng sản khác trong khu vực, dù là Bắc Triều Tiên hay Trung Quốc. Đây quả là một trường hợp đặc biệt đối với Vatican, và tôi xin nhắc lại, Đức ông Parolin rất thân thiết với Việt Nam, rất được các nhà ngoại giao Việt Nam nể trọng, và điều này đã góp phần quan trọng vào tiến trình dẫn đến  lời mời này. Tất nhiên, mọi việc chưa ngã ngũ, nhưng dù sao đi nữa, các tín hữu Công giáo Việt Nam đã chờ đợi rất lâu và có lẽ vẫn khó tin rằng chuyến thăm đó cuối cùng sẽ diễn ra.” 
    RFI: Đối với chính quyền Hà Nội, lợi ích đối với họ là gì, nếu Việt Nam được tiếp đón giáo hoàng và bình thường hóa bang giao với Tòa Thánh?
    Trần Thị Liên Claire: ”Tất nhiên, như tôi đã nói, không thể so sánh với các nước lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ hay các nước châu Âu. Nhưng xét từ cả góc độ quốc tế và trong nước, tôi xin nhắc lại, thiết lập quan hệ chính thức với Vatican cũng sẽ đảm bảo lòng trung thành của người Công Giáo đối với chính quyền Việt Nam. Và mục tiêu của họ, sau cùng, là duy trì quyền lực của đảng độc quyền lãnh đạo. Vì vậy, trước hết và trên hết, họ mong muốn trở thành một cường quốc kinh tế đáng kể - đó là ưu tiên - nhưng cũng là một cường quốc được quốc tế công nhận.
    Tóm lại, tôi cho rằng đây sẽ là một sự kiện lịch sử, bởi vì đã hơn 50 năm Việt Nam không có sứ thần Tòa Thánh và chưa từng có chuyến thăm nào của Giáo hoàng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam. Trên bình diện chính trị và địa chính trị, đây là một thành công đối với cả ba chủ thể chính: Vatican, Nhà nước Việt Nam và Giáo hội Việt Nam. Và vì vậy, xét về mặt tôn giáo, tất nhiên đối với người Công giáo Việt Nam, đây là sự công nhận tầm quan trọng của Giáo hội Việt Nam trong Giáo hội châu Á.”
  • Việt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông?

    2026-05-04
    Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông lại làm giảm bớt căng thẳng tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh. Ngày 24/03/2026, tổng thống Marcos Jr. tuyên bố “sẵn sàng nối lại đàm phán dự án dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông”, sau đó được bộ Ngoại Giao Philippines nhấn mạnh là “phải tuân theo Hiến Pháp Philippines”. Một tháng sau, đại sứ Philippines tại Trung Quốc giải thích hai bên “vừa cố gắng quản lý những khác biệt vừa tìm kiếm sự hội tụ lợi ích”.
    Lần đầu đầu tiên từ ba năm qua, dấu hiệu “tan băng” bắt đầu xuất hiện cho dù nguyên thủ Philippines và Trung Quốc cam kết nối lại đàm phán phát triển dầu khí chung ở Biển Đông nhân chuyến công du Bắc Kinh đầu năm 2023 của tổng thống Marcos Jr. Tháng 03/2026, Philippines ban bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia” do khủng hoảng Trung Đông. Ngay sau đó, Bắc Kinh hứa hỗ trợ duy trì nguồn cung nhiên liệu.
    Khu vực khai thác chung Philippines-Trung Quốc nằm ở đâu ? Mô hình này sẽ tác động như thế nào đối với Việt Nam ? Khủng hoảng Trung Đông đang định hình lại nguồn cung nhiên liệu của nhiều nước Đông Nam Á. Liệu Việt Nam, Philippines và Trung Quốc có thể hướng đến việc tách riêng tranh chấp chủ quyền để đồng khai thác dầu khí ở Biển Đông ?
    RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp.
    RFI : Gần đây, Manila đề cập đến việc nối lại đàm phán với Bắc Kinh về dự án thăm dò dầu khí chung ở Biển Đông. Xin ông giải thích bối cảnh đằng sau quyết định này của Philippines ?
    Laurent Gédéon : Bối cảnh của quyết định này liên quan đến việc Philippines bị phụ thuộc nặng nề vào nguồn tài nguyên hydrocarbon, với các nhà cung cấp dầu chính, theo thứ tự quan trọng, là Ả Rập Xê Út, Irak, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Kuwait. Có thể thấy Philippines nhập khẩu gần như toàn bộ dầu thô từ Trung Đông, khiến nước này rất dễ bị ảnh hưởng bởi biến động giá dầu và gián đoạn nguồn cung.
    Để đối phó với tình trạng này, ngày 24/03, tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã tuyên bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia”, nhằm ứng phó với “rủi ro từ gián đoạn cung ứng và tác động tiêu cực của giá nhiên liệu tăng cao”, hậu quả của xung đột Trung Đông. Đây là một phần trong nỗ lực của chính phủ nhằm giảm thiểu tác động của giá nhiên liệu tăng vọt đối với nền kinh tế quốc gia.
    Đọc thêmPhilippines và Trung Quốc nối lại đàm phán về Biển Đông và hợp tác năng lượng
    Về vấn đề này, trong cuộc họp báo ngày 25/03, tổng thống Marcos Jr. cho biết Philippines sẽ tìm nguồn cung năng lượng thay thế từ các đối tác ít bị ảnh hưởng bởi bất ổn Trung Đông. Ông cho biết Manila đang đàm phán với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Giống như Việt Nam, Philippines cũng đề nghị Tokyo hỗ trợ tiếp cận một phần dự trữ dầu của Nhật Bản. Tokyo phản hồi tích cực, nhưng nhấn mạnh việc hỗ trợ sẽ phụ thuộc vào nhu cầu cụ thể của họ. Cũng chính trong bối cảnh phức tạp này, Philippines thông báo nối lại đàm phán với Trung Quốc về dự án phát triển dầu khí chung.
    RFI : Thông báo của Philippines liên quan đến khu vực nào tại Biển Đông ?
    Laurent Gédéon : Khu vực được thảo luận là bãi Cỏ Rong (Reed Bank, Philippines gọi là bãi Recto), cách đảo Palawan khoảng 80 hải lý về phía tây, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.
    Dự án phát triển tài nguyên hydrocarbon tại bãi Cỏ Rong rất quan trọng đối với nguồn cung năng lượng của Philippines vì theo ước tính, khu vực này chứa khoảng 165 triệu thùng dầu và 3.486 nghìn tỷ feet khối khí đốt. Nguồn tài nguyên này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mỏ khí Malampaya - hiện cung cấp gần 30% nhiên liệu cho Philippines - đang cạn dần. Vì vậy, việc phát triển bãi Cỏ Rong được xem là giải pháp thay thế cấp thiết. Tương lai an ninh năng lượng của Philippines phụ thuộc nhiều vào kết quả các cuộc đàm phán, trong khi nước này vẫn đối mặt với rủi ro đáng kể.
    RFI : Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc và Philippines nêu khả năng khai thác chung dầu khí ở Biển Đông. Trước đây, vấn đề này đã được đề cập như thế nào ?
    Laurent Gédéon : Đây là một tiến trình rất dài. Năm 2003, Trung Quốc và Philippines đã bắt đầu đàm phán về việc cùng khai thác dầu ngoài khơi. Năm 2005, thỏa thuận ba bên về « Khảo sát Địa chấn biển chung » (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) được ký giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PETROVIETNAM) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Philippines (PNOC), tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008.
    Năm 2012, chính quyền Aquino khôi phục ý tưởng hợp tác với Trung Quốc, nhằm thu hút CNOOC đầu tư thăm dò dầu khí. Tuy nhiên, nỗ lực này thất bại do lo ngại liên quan đến đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc. Năm 2014, Manila áp đặt lệnh cấm tạm thời đối với hoạt động thăm dò tại các vùng biển tranh chấp vì căng thẳng với Trung Quốc gia tăng và sau khi Philippines đưa vụ việc ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye. Tình hình bế tắc trong hai năm, sau khi Bắc Kinh bác bỏ phán quyết ngày 12/07/2016 của Tòa phủ nhận yêu sách “đường chín đoạn” bao trùm phần lớn Biển Đông.
    Đọc thêmBiển Đông : Động cơ chính trị của Trung Quốc đằng sau tuyên bố bảo vệ môi trường ?
    Đến năm 2018, hai bên đạt được một số tiến triển khi ký bản ghi nhớ, thiết lập khuôn khổ đàm phán hợp tác phát triển dầu khí. Thỏa thuận quy định trong vòng 12 tháng kể từ tháng 11/2018, hai bên phải thống nhất được khu vực và phương thức thăm dò chung ở Biển Đông. Tuy nhiên, vì không có thỏa thuận cụ thể nào được ký kết, tổng thống Rodrigo Duterte đình chỉ đàm phán vào tháng 06/2022.
    Ngày 10/01/2023, Tòa án Tối cao Philippines tuyên bố vô hiệu thỏa thuận JSMU ký năm 2005 với Trung Quốc và Việt Nam vì vi hiến, do lo ngại làm suy yếu chủ quyền quốc gia. Dù vậy, các cuộc tiếp xúc không chính thức giữa Trung Quốc và Philippines vẫn tiếp diễn, trước khi hai bên chính thức nối lại đối thoại vào tháng 01/2025. Tiến trình được thúc đẩy trong năm 2026 qua các cuộc tham vấn song phương, bao gồm cuộc tham vấn lần thứ 24 giữa bộ Ngoại Giao hai nước tại Tuyền Châu, Trung Quốc và cuộc họp lần thứ 11 của cơ chế tham vấn song phương về Biển Đông. Các cuộc đàm phán này nhằm xác định những bước đi ban đầu hướng tới hợp tác dầu khí. Tuy nhiên, cần theo dõi phần tiếp theo vì ngày 29/03, Manila khẳng định mọi quyết định hợp tác sẽ phải tuân thủ Hiến Pháp Philippines và bảo đảm chủ quyền quốc gia.
    RFI : Một số vùng mà Manila tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn với vùng biển mà Việt Nam khẳng định chủ quyền. Một dự án thăm dò dầu khí chung giữa Trung Quốc và Philippines có thể tác động như thế nào đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ?
    Laurent Gédéon : Bãi Cỏ Rong, nơi Trung Quốc và Philippines vừa đàm phán triển khai thăm dò dầu khí chung, nằm ngoài khu vực chồng lấn chủ quyền của Philippines và Việt Nam tại Trường Sa, do đó dự án này không ảnh hưởng đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam.
    Đọc thêmBiển Đông: Việt Nam dè dặt với các sáng kiến của Philippines
    Tuy nhiên, tuyên bố chủ quyền vẫn tồn tại, liên quan đến phía nam Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Philippines. Vùng biển tranh chấp này sẽ là chủ đề đàm phán tương lai giữa Việt Nam và Philippines. Về tài nguyên dầu khí của Việt Nam, chúng tập trung quanh bãi Tư Chính, nằm ở rìa phía đông nam và nằm ngoài Vùng Đặc quyền Kinh tế của Philippines. Khu vực này, chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng Việt Nam, lại là tâm điểm căng thẳng, không phải giữa Việt Nam và Philippines, mà là giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bắc Kinh thường tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực.
    RFI : Trong trường hợp này hoặc trong trường hợp các dự án phát triển chung giữa Trung Quốc và Philippines, Việt Nam có thể làm gì ? Liệu lập trường của Hà Nội có được Bắc Kinh và Manila lắng nghe ?
    Laurent Gédéon : Khi Hiệp định Hợp tác Khảo sát Địa chấn Biển chung (JSMU) được ký năm 2005, mà tôi đề cập ở trên, cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng. Tình hình sau đó trở nên phức tạp hơn do Trung Quốc chính thức hóa các tuyên bố chủ quyền tối đa, thể hiện qua “đường chín đoạn”. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời. Đặc biệt, Trung Quốc đã tích cực đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Philippines và Việt Nam kể từ năm 2017. Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược (…)
    Về lập trường của Việt Nam, kịch bản khả thi nhất sẽ là một hoặc nhiều thỏa thuận chia sẻ tài nguyên, theo đó Trung Quốc, Việt Nam và Philippines sẽ cùng nhau khai thác dầu khí. Tuy nhiên, sự hợp tác như vậy sẽ đòi hỏi cả tính sáng tạo về mặt pháp lý và thiện chí thực sự từ phía các nước liên quan để đạt được một thỏa hiệp.
    Đọc thêmBiển Đông : Việt Nam có chịu "nhượng" chủ quyền để cùng Philippines chống Trung Quốc ?
    Theo tôi, Hà Nội, cũng như Bắc Kinh và Manila, trong trường hợp này nên chấp nhận một số nhượng bộ để dung hòa các tuyên bố chủ quyền của mỗi bên đối với các khu vực tranh chấp với việc chia sẻ công bằng các nguồn năng lượng có trong những khu vực đó.
    Trong trường hợp như vậy, các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của ba bên. Có khả năng đây là một hướng để suy ngẫm hoặc một cơ hội chính trị và kinh tế đáng để đào sâu, đặc biệt là đối với Việt Nam.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon.
  • Mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam: Một tín hiệu đáng chú ý trong quan hệ Hà Nội - Vatican

    2026-04-27
    Ngày 11/04/2026, nhân chuyến thăm chính thức Tòa Thánh, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã chuyển bức thư của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Tô Lâm gởi giáo hoàng Lêô XIV mời ngài đến thăm chính thức Việt Nam “trong thời gian tới”.
    Theo báo chí Việt Nam, giáo hoàng đã cám ơn lời mời của ông Tô Lâm và bày tỏ mong muốn đến thăm Việt Nam. Phát biểu với chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn, giáo hoàng Lêô XIV còn cho biết « hai năm trước ngay ở khu vườn này có đặt bức tượng Đức Mẹ La Vang mặc áo dài, mỗi khi nhìn thấy là luôn nhớ tới Việt Nam. »
    Giáo hoàng sẽ thăm Việt Nam năm 2027?
    Hiện thời điểm của chuyến tông du chưa được xác định, nhưng theo hãng tin Asianews, quốc vụ khanh Tòa Thánh, hồng y Pietro Parolin dự kiến ​​sẽ sớm đến thăm Việt Nam để thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hà Nội với Tòa Thánh. Chuyến thăm của giáo hoàng Lêô XIV như vậy có thể sẽ diễn ra vào năm 2027, khi ngài dự kiến sẽ công du châu Á vào tháng 8 để dự Ngày Giới trẻ Thế giới tại Seoul. 
    Thông tin về lời mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam đã nhanh chóng lan truyền trong cộng đồng Công Giáo, từ rất nhiều năm qua vẫn mong chờ một vị chủ chăn của Giáo hội Công Giáo Hoàn vũ đặt chân đến Việt Nam, nhất là sau khi mọi người đã rất thất vọng không được đón tiếp giáo hoàng Phanxicô trước khi ngài qua đời vào tháng 4 năm ngoái. 
    Trước đây, cố giáo hoàng Gioan Phaolô II đã từng bày tỏ mong muốn đến thăm Hà Nội, nhưng vào thời ấy, còn quá sớm để thực hiện chuyến thăm này. Sau đó, Hà Nội đã có lời mời thăm chính thức Việt Nam gởi tới giáo hoàng Phanxicô vào tháng 12/2023, vài tháng sau khi hai bên ký kết thỏa thuận mở đường cho sự hiện diện của một đại diện thường trực của Tòa Thánh tại Việt Nam. Bản thân giáo hoàng Phanxicô vào tháng 09/2023 cũng đã từng nói rõ về khả năng đến thăm Hà Nội, khi ngài trở về từ Mông Cổ.
    Mọi việc tưởng là sẽ diễn ra suôn sẻ: Vào tháng 4/2024, đã có chuyến thăm lịch sử của ngoại trưởng Tòa Thánh tổng giám mục Phaolô Gallagher tới Việt Nam. Cũng trong năm 2024, quốc vụ khanh Tòa Thánh, hồng y Pietro Parolin, dự kiến ​​sẽ đến thăm Việt Nam nhằm chính thức chuyển đổi sang quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hà Nội và Tòa Thánh, rào cản chính thức cuối cùng vẫn còn cản trở một chuyến thăm của giáo hoàng.
    Nhưng do bất ổn nội bộ lãnh đạo ở Hà Nội, chuyến thăm của giáo hoàng Phanxicô đã không thể diễn ra. Tuy nhiên, một phái đoàn của chính phủ Việt Nam sau đó đã tham dự cả lễ tang của giáo hoàng Phanxicô và lễ đăng quang của giáo hoàng Lêô XIV. 
    Với lời mời chính thức của ông Tô Lâm, trong bối cảnh mà nội bộ ban lãnh đạo Việt Nam nay đã ổn định, viễn cảnh một chuyến thăm của giáo hoàng đến Việt Nam đang đến gần hơn bao giờ hết, không còn là câu hỏi “liệu ​​có hay không”, mà ngày càng là câu hỏi “khi nào” và “như thế nào”. 
    Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Sài Gòn, linh mục Phêrô Vũ Minh Hưng, cha chánh xứ Giáo xứ Vườn Xoài, thuộc tổng giáo phận Sài Gòn, cho biết: 
    “Tin này đã được thông báo rộng rãi trên các cái trang web của giáo phận rồi. Đó là niềm mong đợi của giáo dân và tất cả thành phần của Giáo hội Công Giáo Việt Nam. Đây là điều rất đặc biệt, vì giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã ưu ái Việt Nam và bây giờ thì đức Lêô cũng quan tâm đến vấn đề đó. Ngài chứng tỏ rất yêu mến Giáo hội Việt Nam và giáo dân Việt Nam cũng rất yêu mến ngài, cho nên họ cũng rất mong ước sự hiện diện của đức thánh cha sẽ đem lại đức tin mạnh mẽ cho người Công Giáo và rất mong đợi ngày đó. Đức thánh cha đến thăm Việt Nam thì người Công Giáo Việt Nam chắc chắn sẽ kéo nhau đến gặp đức thánh cha.
    Nếu đức giáo hoàng về đây thì có thể trên 100 ngàn người Công Giáo khắp nơi sẽ đến chào đức thánh cha. Giáo hội có thể cũng đã chuẩn bị từ là nhiều năm rồi. Nếu đức thánh cha đồng ý với lời mời của chủ tịch nước thì có lẽ Giáo hội Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ định hướng ra một cách đón tiếp đặc biệt. Sự hiện diện của đức thánh cha cần một nơi rộng rãi, chứa được số lớn. Còn về an ninh thì chắc Việt Nam cũng không đến nỗi nào đâu.
    Trước đây chính quyền cũng nghi ngại, nghi kỵ tôn giáo lắm, cho nên chưa hiểu được đường lối ngoại giao cần thiết của Việt Nam đối với Tòa Thánh thì sẽ nâng lên một tầm mới. Nhưng bây giờ có lẽ họ có một sự hiểu biết nhiều hơn về đức thánh cha và Vatican.”
    UCANEWS: "Một tín hiệu đáng chú ý"
    Theo nhận định của hãng tin Công giáo UCANEWS ngày 13/04/2026, “đối với nhiều người Công Giáo Việt Nam, lời mời này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một tín hiệu đáng chú ý sau nhiều năm phát triển quan hệ chậm rãi, từng bước. Lời mời này là một trong số những hành động ngoại giao đáng chú ý đầu tiên của Tô Lâm sau khi ông đảm nhiệm thêm chức vụ chủ tịch nước. Trong một hệ thống chính trị mà đường lối ngoại giao thường rất thận trọng, đi từng bước một, những cử chỉ ban đầu thường mang ý nghĩa quan trọng.”
    UCANEWS đánh giá những nỗ lực gần đây của Hà Nội nhằm tăng cường quan hệ với Tòa Thánh “cũng có thể được hiểu như một thông điệp rộng hơn gửi đến cộng đồng Công Giáo Việt Nam”. Với hơn 7,5 triệu người, theo số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/ 2025, mặc dù chỉ là thiểu số trong một quốc gia nay đã hơn 102 triệu dân, tín hữu Công Giáo ở Việt Nam lại là một trong những cộng đồng tôn giáo gắn kết nhất, với các mạng lưới chặt chẽ được xây dựng xung quanh các giáo xứ, hội đoàn và đời sống tôn giáo chung. 
    Nhìn về viễn cảnh giáo hoàng Lêô XIV đến thăm Việt Nam, cha chánh xứ Giáo xứ Vườn Xoài Vũ Minh Hùng bày tỏ hy vọng về tương lai của Giáo hội: 
    “Khi mà chính phủ ngỏ lời mời thì chắc chắn có những điều tốt, đó là muốn cho tiếng nói của Việt Nam với thế giới, rồi tiếng nói Việt Nam với Giáo hội sẽ mở rộng ra nhiều hướng khác nhau. Hiện nay đã có đại diện thường trú ở Việt Nam, nhưng mai mốt sẽ có những trụ sở của ngài nữa. Mong muốn của giáo dân Việt Nam là có văn phòng chính thức của các đại diện Tòa Thánh, đại diện đức thánh cha. Chắc chính quyền cũng mong ước điều đó. 
    Bây giờ cũng không thấy cản trở gì, nhưng nếu có một quan hệ như vậy thì hai bên sẽ hiểu nhau hơn và có thể là có những điều tốt cho Giáo hội. Mình cũng hy vọng là những cơ sở tôn giáo sẽ được trả lại, tức là nếu mà bình thường hóa thì chắc chắn phải có những tiếng nói của các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam, sẽ lấy lại được một số cơ sở của mình mà Nhà nước đang trưng dụng 50 năm nay.”
    Sắp tới đây, coi như Giáo hội Công Giáo Việt Nam sẽ có một cuộc "tổng diễn tập" cho việc đón tiếp giáo hoàng Lêô XIV, vì theo dự kiến, tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy ( Bạc Liêu ), vào ngày 02/07/2026 sẽ diễn ra Thánh lễ phong Chân phước ( Á Thánh ) cho cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, với sự tham dự của cả 100.000 giáo dân từ các nơi. Đây là lần đầu tiên nghi thức tuyên phong Chân phước tổ chức tại Việt Nam và dĩ nhiên việc tổ chức thánh lễ sẽ có sự phối hợp chặt chẽ giữa Giáo hội với chính quyền địa phương. Kinh nghiệm từ sự phối hợp này chắn chắn sẽ hữu ích cho việc đón tiếp giáo hoàng Lêô XIV.
    Việt Nam - Vatican: Quan hệ tiến triển đều đặn
    Sau nhiều thăng trầm, quan hệ giữa Việt Nam và Vatican đã đạt được một bước tiến lớn với việc thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa Thánh tại Việt Nam”. Thỏa thuận đã được thông qua vào tháng 7/2023 khi chủ tịch nước của Việt Nam vào lúc đó là Võ Văn Thưởng thăm Tòa Thánh và gặp giáo hoàng Phanxicô. 
    Đến ngày 23/12 năm đó, Tòa Thánh Vatican chính thức công bố việc tổng giám mục Marek Zalewski được giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm Đại diện thường trú đầu tiên của Tòa Thánh tại Việt Nam. Tổng giám mục Marek Zalewski nguyên là sứ thần Tòa Thánh tại Singapore và đã kiêm nhiệm Đặc phái viên không Thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam từ năm 2018. Việt Nam là quốc gia Cộng Sản duy nhất mà Vatican có đại diện thường trú. Trước chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn, giáo hoàng Lêô XIV đã tiếp phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân vào cuối tháng 6/2025 và tiếp Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam – Tòa Thánh vào tháng 9/2025.
    Nhờ quan hệ Việt Nam - Tòa Thánh phát triển đều đặn như vậy, nói chung sinh hoạt của Giáo hội Công giáo Việt Nam nay cũng thuận lợi, cả trong việc bổ nhiệm các giám mục, mà trước đây là vấn đề vẫn gây rắc rối giữa Hà Nội với Vatican, theo lời linh mục Vũ Minh Hưng:
    "Chuyện đó rất là thuận lợi, tức là khi bên Tòa Thánh, bên (Giáo hội) Việt Nam mà có nhu cầu về các giám mục thì họ cũng không gây khó khăn gì. Tại vì bây giờ tư tưởng của các linh mục không làm cho họ sợ nữa, cho nên họ cũng không điều tra, rồi làm khó các linh mục như hồi xưa. Bây giờ thái độ của chính quyền hình như cũng dung hòa hơn. Mình có nhu cầu gì, xin thì cũng hơi khó, nhưng cũng giải quyết được."
  • EU giúp Việt Nam đào tạo nguồn lực chất lượng cao, toàn diện cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số

    2026-04-20
    Hơn 50 triệu euro được Liên Hiệp Châu Âu đầu tư cho Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp Việt Nam (VETVET). Hiệp định được Liên Âu và chính phủ Việt Nam ký ngày 31/12/2025 và kéo dài đến năm 2030 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, xây dựng lực lượng lao động có kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số tại việt Nam.
    “Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số” được trang Nhân Dân nhấn mạnh “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược” của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn, có kỹ năng. Chương trình VETVET của Liên Hiệp Châu Âu được bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn đánh giá “sẽ góp phần hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động”.
    Về phía Liên Hiệp Châu Âu, trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Julien Guerrier cho biết Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam-EU đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực giáo dục và phát triển kỹ năng. Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam.
    RFI : Một thỏa thuận mới về tài trợ Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp (VETVET) đã được Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam đã ký ngày 31/12/2025. Xin Đại sứ cho biết chương trình hợp tác chung giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam về lĩnh vực này được triển khai từ bao giờ và nhằm những mục tiêu nào ?
    Đại sứ Julien Guerrier : Đối với chúng tôi, chương trình VETVET là một sáng kiến ​​lớn nhằm tăng cường công tác đào tạo và giáo dục tại Việt Nam. Công tác chuẩn bị cho chương trình hợp tác và dự án này bắt đầu từ năm 2023, và chúng tôi ký thỏa thuận tài chính vào cuối năm 2025. Vì vậy, hiện nay chúng tôi đã sẵn sàng triển khai dự án này. Đây là một chương trình với nhiều nhà tài trợ, có tổng ngân sách hơn 50 triệu euro, có thể thấy là rất lớn, được đồng tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu (40 triệu euro), Đức (10,4 triệu euro) và Pháp (500.000 euro). Chương trình sẽ do Expertise France và đối tác Đức là GIZ thực hiện, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.
    Chương trình kéo dài 5 năm, được bắt đầu ngay lập tức và kéo dài tới năm 2030. Mục tiêu của chương trình VETVET là hỗ trợ Việt Nam xây dựng một lĩnh vực giáo dục và đào tạo toàn diện, chất lượng cao và hiện đại, trang bị cho người Việt Nam những kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế tương lai, đặc biệt là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Thông qua chương trình này, chúng tôi sẽ thiết lập một số quan hệ đối tác với các doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ nỗ lực tăng cường sức hấp dẫn và tính bền vững của ngành giáo dục và đào tạo tại Việt Nam để có được những kỹ năng về mặt khởi nghiệp và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
    Đọc thêmEU và Việt Nam ký kết thỏa thuận chương trình đào tạo nghề trị giá 50 triệu euro
    RFI : Thỏa thuận mới “nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực kỹ năng cao”. Cụ thể là những ngành nghề nào được chú trọng ? Hoạt động đào tạo sẽ được tiến hành như thế nào ? Tại Việt Nam hay tại các nước thành viên EU tham gia chương trình ?
    Đại sứ Julien Guerrier : Sự hỗ trợ của Liên Hiệp Châu Âu dành cho đào tạo nghề tại Việt Nam sẽ tập trung vào các lĩnh vực đang thiếu hụt lao động tay nghề cao nhất, như chị đề cập, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ cao kỹ thuật số, cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn, công nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững và công nghệ quản lý môi trường và lâm nghiệp. Đó là những lĩnh vực sẽ được chúng tôi tập trung tới.
    Chúng tôi sẽ hợp tác với khoảng ba mươi trường cao đẳng nghề và doanh nghiệp để giúp chúng tôi phát triển các kỹ năng này, trước hết là bằng cách đào tạo giảng viên, sau đó là đào tạo người Việt Nam trong các lĩnh vực này, trên khắp các vùng miền của Việt Nam, và đôi khi thông qua các chương trình trao đổi tại Liên Hiệp Châu Âu.
    Cách tiếp cận sẽ rất sát với nhu cầu thực tế, có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ cho chúng tôi biết họ thiếu kỹ năng gì và sẽ cần kỹ năng gì trong tương lai, và chúng tôi sẽ có thể đào tạo giảng viên không chỉ ở các trường cao đẳng nghề mà ngay chính trong doanh nghiệp, những người mà sau này có thể tập trung vào việc đào tạo thanh niên trong những lĩnh vực khác nhau.
    Điều quan trọng đối với chúng tôi là cần bảo đảm sự tiếp cận công bằng và bình đẳng cho thanh niên, bao gồm cả những người đến từ các vùng khó khăn hoặc các dân tộc thiểu số. Do đó, chúng tôi sẽ bảo đảm rằng tài liệu đào tạo và phương pháp giảng dạy được triển khai sẽ phải bao gồm cả các nhóm dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới và khuyến khích chương trình đào tạo dành cho phụ nữ tại Việt Nam.
    RFI : Chương trình đào tạo này có thể mang lại lợi ích như thế nào cho hợp tác giữa EU và Việt Nam ?
    Đại sứ Julien Guerrier : Đối với Việt Nam, điều này rất rõ ràng, Việt Nam sẽ có nhiều kỹ năng hơn, một lĩnh vực đào tạo nghề hiện đại hơn rất nhiều, hiệu quả và chất lượng cao hơn để đào tạo giới trẻ cho các doanh nghiệp tương lai.
    Việc này cũng rất cần thiết đối với Liên Hiệp Châu Âu. Thứ nhất, bởi vì đó là một phần trong các chương trình của Liên Âu để đóng góp vào hành động chống biến đổi khí hậu trên toàn thế giới. Ngoài ra cũng bởi vì chúng tôi có rất nhiều nhà đầu tư tại Việt Nam. Chúng tôi có Hiệp định Thương mại Tự do và Hiệp định Đầu tư với Việt Nam. Vì vậy nhiều nhà đầu tư châu Âu đến đây, đầu tư vào các lĩnh vực mà chúng tôi có lợi thế cạnh tranh, cụ thể là các lĩnh vực xanh, bền vững và công nghệ số cao. Và đó là những lĩnh vực cần những kỹ năng này. Vì vậy, chúng tôi sẽ phải đào tạo nguồn nhân lực sau này có thể làm việc cho các công ty của chúng tôi đầu tư vào Việt Nam trong những lĩnh vực này.
    Đọc thêmViện trợ phát triển: Liên Âu dự trù 300 tỷ euro làm đối trọng với Trung Quốc
    RFI : Để “đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số tại Việt Nam”, Việt Nam cần nguồn nhân lực kỹ năng cao như thế nào ? Tình hình này có khẩn cấp không ?
    Đại sứ Julien Guerrier : Có, bởi vì đất nước đang chuyển mình rất, rất nhanh. Việt Nam đặt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, giống như Liên Hiệp Châu Âu. Việt Nam cũng khao khát đi đầu trong quá trình chuyển đổi số.
    Đối với chuyển đổi xanh, sẽ cần các kỹ sư năng lượng tái tạo, kỹ thuật viên, chuyên gia về biến đổi khí hậu, kỹ thuật viên khoa học môi trường và công nhân lành nghề trong các hoạt động nông nghiệp bền vững, ví dụ canh tác lúa phát thải thấp, cũng như trong ngành công nghiệp gỗ và quản lý rừng.
    Về chuyển đổi số, rất cần các kỹ sư và kỹ thuật viên trong các lĩnh vực điện tử, cơ điện tử và công nghệ thông tin. Ngoài ra cũng cần các chuyên gia về tự động hóa quy trình công nghiệp, robot và các lĩnh vực công nghệ cao khác, đặc biệt là chất bán dẫn, một lĩnh vực mà Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển nhanh chóng.
    Có thể thấy là có khá nhiều lĩnh vực kỹ thuật cần những con người có thể sử dụng phần mềm mới nhất, tích hợp các giải pháp số vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn, và sử dụng tối ưu nguồn năng lượng hiện có. Đó là những kỹ sư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, lĩnh vực số hóa, cũng như trong mọi ngành công nghiệp ở Việt Nam, để tích hợp những công nghệ này vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn.
    RFI : Chương trình VETVET có tương ứng và đáp ứng với kế hoạch 5 năm được đề ra trong Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV ?
    Đại sứ Julien Guerrier : Hoàn toàn đúng vậy. Tôi đã tham dự lễ khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam sáng 20/01. Đại hội quyết định việc bổ nhiệm lãnh đạo cho 5 năm tới, cũng như các chính sách cần theo đuổi. Các ưu tiên là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Và đối với hai ưu tiên này, mục tiêu số một là phát triển nguồn nhân lực bởi vì đó là điều kiện tiên quyết để thành công trong hai quá trình chuyển đổi này. Vì vậy, theo kế hoạch của Đảng, đây là điểm đứng đầu trong các ưu tiên cho 5 năm tới. Và điều này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của người dân Việt Nam để phát triển đất nước một cách bền vững. Do đó, giữa các ưu tiên của Liên Hiệp Châu Âu và các ưu tiên của Việt Nam có sự tương đồng hoàn hảo về vấn đề này.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier.
About Tạp chí Việt Nam
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website