PodcastsTạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam
Latest episode

61 episodes

  • Pháp, Việt Nam tăng cường quan hệ đối tác pháp luật trong thời đại công nghệ số

    2026-2-09
    Pháp luật là một trong những lĩnh vực hợp tác lâu năm nhất giữa Pháp và Việt Nam. Hợp tác trong lĩnh vực này bắt đầu từ những năm 1990 và dựa trên sự tương đồng giữa hệ thống pháp luật của hai nước, cũng như sự quan tâm của Việt Nam đến kinh nghiệm của Pháp.
    Mục tiêu chủ yếu của quan hệ đối tác này là hỗ trợ các cải cách hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Sự hợp tác này được tổ chức thông qua các hội thảo chia sẻ chuyên môn và các hội nghị với các bộ, ngành của Việt Nam, các chuyên gia pháp luật và các học giả.
    Để đánh dấu 30 năm hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, trong tháng 11 vừa qua, Pháp và Việt Nam đã tổ chức Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp. Nhân dịp này, một phái đoàn của bộ Tư Pháp của Pháp đã đến thăm Việt Nam, dẫn đầu là bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín. Theo thông báo của đại sứ quán Pháp, phái đoàn Pháp đã trao đổi với lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án Nhân dân Tối cao “về những vấn đề pháp lý cùng quan tâm”, trao đổi về tương trợ dân sự quốc tế với Vụ Pháp luật quốc tế thuộc bộ Tư pháp Việt Nam, đồng thời ký kết Chương trình hợp tác giai đoạn 2026–2027 giữa bộ Tư Pháp của hai nước.
    Tham gia phái đoàn Pháp đến thăm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn có nhiều chuyên gia pháp lý (công chứng viên, luật sư, thẩm phán và chấp hành viên), trong đó có luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, chủ tịch Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam ( ACJEV ) và cũng là chủ tịch Ủy ban Việt Nam của Luật sư đoàn Paris, một ủy ban được thành lập vào năm 2013. 
    Trả lời RFI Việt ngữ tại Paris ngày 12/12/2025, luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot cho biết:
    “Tôi tham gia phái đoàn Pháp từ ngày 24 đến 21/11 tham dự Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp Pháp-Việt. Đây là lần đầu tiên sự kiện được tổ chức và chúng tôi đã tham dự nhiều hội thảo, gặp gỡ Tòa án Nhân dân Tối cao và bộ trưởng Tư Pháp, cũng như dự lễ ký kết chương trình hành động hai năm 2026-2027 với sự hiện diện của thứ trưởng bộ Tư Pháp. 
    Phái đoàn Pháp do bộ Tư Pháp dẫn đầu, bao gồm bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín và một số quan chức khác của bộ Tư Pháp, cùng với hai luật sư từ Hội đồng Luật sư Quốc gia (mà tôi là một trong những thành viên), hai công chứng viên từ Hội đồng Công chứng cấp cao, các chấp hành viên và đại diện từ Quỹ Luật Châu lục. 
    Hợp tác pháp lý Pháp-Việt là lâu đời nhất, bắt đầu từ những năm 1990, khi tổng thống François Mitterrand thăm Việt Nam và Đại sứ Blanche Maison đang tại nhiệm. Vào thời điểm đó, Nhà Pháp luật Việt-Pháp được thành lập. Trung tâm này đã đóng cửa vào năm 2012 và năm 2013, Luật sư đoàn Paris đã lập cơ sở quốc tế đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút một lượng lớn các chuyên gia pháp lý từ các trường đại học cũng như các luật sư Pháp, Việt Nam và châu Âu.
    Kể từ đó, theo yêu cầu của các đối  tác Việt Nam, chúng tôi đã tham gia vào sự hợp tác này. Đầu tiên, chúng tôi thành lập một hiệp hội gọi là Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam, hầu như năm nào cũng đến Việt Nam để đóng góp vào sự hợp tác này theo cách riêng và ở cấp độ của mình, thông qua các hội thảo về nhiều chủ đề khác nhau, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. 
    Nhóm của chúng tôi luôn sẵn sàng và trong nhóm, chúng tôi bổ sung cho nhau rất tốt, và có một sự liên tục nhất định trong sự hợp tác này, một sự hợp tác cũng gắn liền với cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi hoàn toàn muốn các hội thảo của mình được tổ chức bằng tiếng Pháp và điều này là theo yêu cầu của các học giả và hiệp hội luật sư Việt Nam.” 
    Trong Tuần lễ Pháp - Việt Nam về Pháp luật và Tư pháp, một cuộc gặp gỡ đã diễn ra tại trụ sở Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa các luật sư của phái đoàn Pháp với Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các phó chủ tịch và các thành viên Ban Quan hệ Quốc tế của Liên đoàn. Cuộc gặp này là trong khuôn khổ các trao đổi giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Hội đồng Quốc gia các Luật sư đoàn Pháp.
    Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp được tổ chức trong tháng 11 vừa qua đã là dịp thúc đẩy và định hình các trao đổi mới trong lĩnh vực đại học, đặc biệt xoay quanh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, những chủ đề then chốt trong tiến trình hiện đại hóa hệ thống pháp luật của hai nước.
    Theo bộ Tư Pháp Việt Nam, trong những năm gần đây, phía Pháp đã tiếp tục hỗ trợ bộ này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế, trong đó có các đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị định Hòa giải thương mại…, đồng thời tăng cường hợp tác giữa các nghề luật của hai nước như công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên…
    Ngoài các phiên họp chính thức, đây đã là dịp để các chuyên gia Việt Nam và Pháp tham gia ba buổi hội thảo về những thách thức pháp lý phát sinh từ quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, theo lời luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot:
    “Pháp luôn được tham vấn mỗi khi Việt Nam thực hiện một dự án cải cách. Pháp được xem là mô hình cho Việt Nam. Năm nay, bộ Tư Pháp của Pháp, trong khuôn khổ Tuần lễ Pháp luật, đã nêu bật những thách thức ở cấp độ châu Âu do việc quản lý trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra. Mục tiêu là dung hòa những đổi mới công nghệ với việc bảo vệ các quyền cơ bản và bảo vệ tính độc lập của tư pháp, vốn là nguyên tắc thiết yếu của nhà nước pháp quyền.
    Do bộ Tư Pháp của Pháp và bộ Tư Pháp của Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, chương trình của Tuần lễ Pháp luật rất dày đặc, bao gồm chuyến thăm và cuộc gặp với một trong các phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tiếp theo, ngày hôm sau, chúng tôi có một hội thảo kéo dài cả ngày với Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hội thảo này tập trung vào đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với các bài thuyết trình của nhiều học giả đến từ Đại học Luật Hà Nội và Đại học Huế, cũng như các giáo sư đến từ Pháp. Dĩ nhiên đã có bài thuyết trình của tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín của Pháp, cũng như của các công chứng viên và chấp hành viên. 
    Chủ đề chính là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, và làm thế nào để kết hợp những đổi mới công nghệ này với việc bảo vệ các quyền cơ bản, duy trì tính độc lập của tư pháp, và làm thế nào để dung hòa tất cả những điều này. Việc xây dựng một môi trường tin cậy là rất cần thiết để đảm bảo AI hoạt động hiệu quả. Chúng tôi đang làm việc cho tương lai. AI không phải là mới, nhưng đúng là chúng ta vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát được công nghệ. Chúng ta cần tập hợp các nguồn lực. Bộ Tư Pháp của  Pháp giới thiệu các mô hình châu Âu và trao đổi ý tưởng với các đối tác Việt Nam, những người cũng đã tiến rất xa trong lĩnh vực này. Vì vậy, tôi nghĩ tương lai hoàn toàn khả thi đối với việc sử dụng  trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.”
    Hội thảo chuyên đề đầu tiên, được tổ chức vào ngày 25/11/2025 tại Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, là về chủ đề “Thể chế pháp lý và đổi mới sáng tạo”, tập trung vào việc điều chỉnh pháp luật tại Pháp, Việt Nam và trên thế giới trong bối cảnh phát triển xã hội, khoa học và công nghệ.
    Hội thảo thứ hai, với chủ đề « Thể chế pháp lý và Trí tuệ Nhân tạo », được tổ chức vào ngày 27/11 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đặt ra những tranh luận thiết yếu về các vấn đề pháp lý xoay quanh trí tuệ nhân tạo và các quy định liên quan.
    Trong khuôn khổ quan hệ đối tác giữa Trường Thẩm phán Quốc gia (Pháp) và Học viện Tư pháp (Việt Nam), một hội thảo kết hợp trực tuyến và trực tiếp về « Sử dụng trí tuệ nhân tạo của thẩm phán » đã được tổ chức để phân tích sự đóng góp của AI vào việc quản lý tư pháp tại Pháp và Việt Nam.
    Theo luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, trong khi đó Hội Hợp tác Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam vẫn tiếp tục đáp ứng các nhu cầu đào tạo của phía Việt Nam:
    “Nhu cầu đào tạo ngày càng tăng, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam khởi xướng việc thành lập hai trung tâm tài chính quốc tế trong năm nay tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, và chúng tôi có yêu cầu cấp thiết là quay lại hàng năm để cung cấp các khóa đào tạo bằng tiếng Pháp cho các học giả và luật sư nhằm tiếp tục tăng cường hợp tác và cùng nhau tiến lên. Hiệp hội của tôi và cá nhân tôi đã tham gia vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt này trong suốt 25 năm qua. Tôi đã mang theo cả một đội ngũ, hầu như năm nào cũng sẵn sàng đến Việt Nam theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Đó là một đội ngũ bổ sung, mang đến cách tiếp cận đa ngành, và mỗi thành viên đều đóng góp đáng kể vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt. 
    Hầu hết các tổ chức và trường đại học đều do những người nói tiếng Pháp, từng học ở Pháp điều hành. Vì vậy, việc đào tạo tiếng Pháp không phải là vấn đề. Họ hoàn toàn có khả năng, và ngay cả khi đôi khi một số người trẻ không được đào tạo tiếng Pháp cũng nói tiếng Anh và giao tiếp rất tốt với chúng tôi. Chúng tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án với các trường đại học và hiệp hội luật sư.
    Tại hội nghị ngày 25/11/2025, tôi đã gặp lại các sinh viên đến từ các trường đại học Toulouse-Capitole, Lyon 3 và Bordeaux. Theo yêu cầu của các giáo sư, tôi đã hướng dẫn các em trong một ngày học vào tháng Tư năm ngoái trước khi các em sang Việt Nam. Hiện các sinh viên này đang theo học năm thứ hai chương trình Thạc sĩ Hợp tác Kinh tế và Luật Thương mại Quốc tế tại Hà Nội.
    Ngoài ra, năm 2026 sẽ diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 20 tại Siem Reap, Cam Bốt , ngay sát bên. Chúng tôi sẽ cố gắng có mặt ở đó, vì một trong những mục tiêu của hiệp hội chúng tôi là Cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi sẽ cố gắng kết nối hai bên và phát triển hơn nữa tiếng Pháp tại Việt Nam.”
    Theo báo chí Việt Nam, bộ Tư Pháp Pháp, Quỹ Luật lục địa cũng như Trường Đại học Paris-Assas đang phối hợp với bộ Tư Pháp Việt Nam và Trường Đại học Luật Hà Nội để thúc đẩy việc thành lập Trung tâm Pháp luật Pháp tại đại học này. Phía Việt Nam cho biết Trường Đại học Luật Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng cơ sở vật chất cho Trung tâm và mong muốn phía Pháp hỗ trợ chuyên gia và giảng viên tới giảng dạy tại Trung tâm Pháp luật Pháp. Tuy nhiên phía Pháp hiện chưa đáp ứng các yêu cầu này.
  • Liên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu

    2026-2-02
    Liên Hiệp Châu Âu hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba và là thị trường nhập khẩu lớn thứ năm của Việt Nam. Năm 2026 được coi là “thời điểm vàng” để doanh nghiệp Việt Nam khai thác tối đa lợi thế từ Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) với Liên Âu vì lộ trình cắt giảm thuế quan giữa hai bên đã tiến gần đến 100%. EU cũng không ngừng hỗ trợ Việt Nam trong chuyển đổi xanh để đáp ứng tiêu chí sản phẩm của khối 27 nước.
    Kể từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực ngày 01/08/2020, giao thương giữa Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu không ngừng gia tăng. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 73,8 tỷ đô la, trong đó Việt Nam xuất siêu khoảng 30 tỷ đô la. Theo báo Đầu tư ngày 07/01, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Liên Âu trong khối ASEAN, đứng trong top 10 nhà cung ứng hàng hóa cho thị trường EU (Eurostat 2024).
    Doanh nghiệp châu Âu tin vào Việt Nam
    Liên Âu hiện là nhà đầu tư lớn thứ 6 của Việt Nam. Việt Nam trở thành điểm hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư Liên Âu. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier nhận định :
    “Tôi thậm chí có thể nói rằng trong một hoặc hai năm gần đây, chúng ta đã thấy sự gia tăng đáng kể về niềm tin của các nhà đầu tư châu Âu vào Việt Nam. Điều này được Phòng Thương mại Châu Âu - EuroCham tại Việt Nam đo lường hàng tháng. Mức độ tin tưởng vào đất nước gia tăng nhanh chóng. Năm 2025, tăng trưởng của Việt Nam đạt 8% và Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong những năm tới.
    Vì vậy, đây là một quốc gia có nhiều cơ hội kinh tế, nơi có một mong muốn thực sự, một tầm nhìn để hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam, và là nơi đang thu hút ngày càng nhiều công ty châu Âu. Hiện tại có 1.500 công ty thành viên của EuroCham đang đầu tư mạnh vào Việt Nam.
    Đọc thêmHiệp định Tự do Thương mại EU-Việt Nam : Pháp-Việt được lợi gì?
    Cụ thể, theo Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) quý IV năm 2025 được EuroCham thực hiện, niềm tin đã tăng 13,5 điểm so với quý trước và lên đến 80 điểm - mức cao nhất trong 7 năm gần đây. Chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert đánh giá trong bài nhận định đăng trên The Investor ngày 19/01 : “Đây không chỉ là một con số ấn tượng, nó còn báo hiệu một sự chuyển biến rõ ràng trong tâm lý kinh doanh châu Âu, từ sự phục hồi thận trọng sang niềm tin chiến lược… Từ 2021 đến 2025, các nhà đầu tư châu Âu đã rót hơn 28 tỷ đô la vào Việt Nam. Điều này cho thấy niềm tin dài hạn của họ và tiềm năng của đất nước”.
    Trước đó, tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt Nam - EU 2025, diễn ra ngày 17/10/2025, phó chủ tịch EuroCham Jean-Jacques Bouflet nhận định :
    76% lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu hiện nay nhìn nhận Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn, và 80% dự báo điều kiện sẽ còn thuận lợi hơn trong 5 năm tới.
    Khả năng phục hồi và tư duy cải cách : Hai yếu tố củng cố niềm tin
    Niềm tin này được căn cứ vào hai yếu tố chủ đạo : Khả năng phục hồi đáng kể ; tư duy cải cách mạnh mẽ.
    Khả năng phục hồi

    Về yếu tố thứ nhất, Việt Nam được giới chuyên gia đánh giá là đã thể hiện được sự linh hoạt, khéo léo hóa giải các biện pháp thuế đối ứng (ban đầu lên đến 46%) của tổng thống Mỹ Donald Trump. Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, nhận định với RFI Tiếng Việt :
    “Vấn đề thuế quan (với Mỹ) đã được Việt Nam đàm phán khá khéo léo, và cuối cùng họ không bị thiệt hại quá nhiều. Còn về quan hệ song phương với Trung Quốc, quan hệ đối tác kinh tế và thương mại đã cởi mở hơn và nhiều hơn. Nhìn từ góc độ này, bối cảnh rất đặc biệt cho Việt Nam, nhưng “ngoại giao cây tre” đã chứng tỏ hiệu quả đáng kể, bởi vì Việt Nam đã phần nào vượt qua các cuộc xung đột đánh dấu năm 2025 mà không bị thiệt hại đáng kể”.
    Năm 2025, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế có trị giá xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới, với tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 920 tỷ đô la. Theo Cục Hải quan, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất (152 tỷ đô la) của Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất (183 tỷ đô la) cho Việt Nam.
    Tư duy cải cách

    Tư duy cải cách mạnh mẽ là yếu tố thứ hai tác động đến niềm tin của doanh nghiệp châu Âu vào Việt Nam. Ngày 16/01, hãng tin Pháp AFP nhận định “từ khi lên nắm giữ vị trí cao nhất cách đây chỉ 17 tháng, ông Tô Lâm đã tiến hành chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt, giảm bớt thủ tục hành chính và thúc đẩy đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng” : từ 30 bộ và cơ quan chính phủ giảm xuống còn 22, giảm gần 150.000 công chức, khởi động nhiều dự án đầy tham vọng về đường sắt và năng lượng.
    Đối với nhiều nhà ngoại giao và nhà phân tích, được AFP trích dẫn ngày 16/01, “chính trị gia 68 tuổi là một chiến lược gia khôn khéo, có khả năng chấp nhận rủi ro, và những canh bạc táo bạo nhất của ông đã mang lại thành công”. Giáo sư danh dự Carl Thayer, Đại học New South Wales (Úc), “không gọi ông Tô Lâm là Trump của Việt Nam, nhưng đó là một nhà lãnh đạo tìm cách củng cố quyền lực để đưa ra những quyết định nhanh chóng và dứt khoát”.
    Đọc thêmEuroCham : Tinh giản hành chính nhưng cần nhanh, hiệu quả để Việt Nam tăng hấp lực
    Tân tổng bí thư “Tô Lâm sẽ vạch ra hướng đi cho các cải cách đã ấp ủ trong năm qua”, theo nhận định với AP của Nguyễn Khắc Giang, nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Chương trình Nghiên cứu Việt Nam, Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) : “Tôi cho rằng các cải cách sẽ tiếp tục được đẩy nhanh sau Đại hội Đảng. Nhưng rõ ràng, sẽ có rất nhiều rào cản đối với các cải cách của ông ấy, đặc biệt là nếu nhìn vào cách thức mà các phe phái bảo thủ, nhất là quân đội, sẽ đặt ra nhất nhiều hạn chế, vì lo ngại rằng các cải cách sẽ đi quá xa, khiến Việt Nam có thể đi chệch khỏi con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng muốn đề ra cho đất nước”.
    EU sẵn sàng đồng hành trong quá trình chuyển đổi
    Vậy mô hình tăng trưởng mới gồm những điểm gì ? Đó là tái cấu trúc nền kinh tế, đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất là 10% hàng năm cho đến 2030, đưa thu nhập bình quân đầu người lên khoảng 8.500 USD vào năm 2030 ; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP.
    Để thực hiện chiến lược này, chính phủ coi trọng ba nhóm giải pháp chính : Hoàn thiện thể chế để phát triển, xóa bỏ những điểm nghẽn, rào cản, giải phóng mọi nguồn lực (…) ; Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài (…) ; Phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là hạ tầng giao thông chiến lược (đường sắt, cảng biển), hạ tầng công nghệ, hạ tầng năng lượng. Những hạ tầng này hết sức quan trọng để bảo đảm tăng trưởng 2 con số trở lên trong thời gian tới và mục tiêu đến năm 2045 trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao.
    Đây cũng là ba trụ cột cốt lõi được chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert nhấn mạnh khi nói về chiến lược phát triển của Việt Nam để đạt được tham vọng này. Cụ thể, Liên Hiệp Châu Âu, cũng như các nhà đầu tư châu Âu, trông đợi gì từ Đại hội Đảng XIV ? Đại sứ EU Julien Guerrier nhận định với RFI Tiếng Việt :
    “Đại hội cần hướng tới việc xác định và phê duyệt các chính sách đã được hoạch định cho 5 năm tới. Việt Nam đang thực hiện quá trình đơn giản hóa hành chính ở quy mô lớn, bao gồm việc sáp nhập các tỉnh, bộ và đơn giản hóa các thủ tục, tất cả nhằm mục đích hiện đại hóa đất nước và thu hút đầu tư.
    Tôi nghĩ rằng điều mà chúng tôi kỳ vọng, đó là sự thành công của tất cả các cải cách này, để môi trường kinh doanh trở nên hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh và chuyển đổi số.
    Đây là những ngành công nghiệp của tương lai và cũng là những lĩnh vực mà Liên Hiệp Châu Âu có lợi thế cạnh tranh và có thể cung cấp cho Việt Nam những giải pháp công nghệ cao, an toàn, bảo đảm tính tự chủ chiến lược và độc lập kinh tế của Việt Nam đối với việc phát triển trong tương lai về những lĩnh vực trọng điểm này”.
    Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ?
    Một khung pháp lý minh bạch, ổn định và nhất quán chính là nền tảng để xây dựng một nền kinh tế có thể tiến xa và tăng trưởng bền vững, để thuyết phục được các nhà đầu tư tự tin đặt những “viên gạch” dài hạn. Điểm này đã trở thành điều kiện tiên quyết trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao. Chủ tịch EuroCham cho rằng “nếu làm tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút thêm nhiều dòng vốn châu Âu vào các lĩnh vực giá trị gia tăng cao như công nghệ, năng lượng tái tạo, sản xuất xanh và dịch vụ hiện đại”.
    Để hỗ trợ chuyển đối số, chuyển đổi xanh được chính phủ Việt Nam khẳng định “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược”, Liên Hiệp Châu Âu và chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam (VETVET) với hơn 50 triệu euro. Được ký ngày 31/12/2025 - ngay trước khi khai mạc Đại hội Đảng XIV, Hiệp định có hiệu lực đến năm 2030, trùng với kế hoạch 5 năm 2026-2030. Đại sứ Julien Guerrier đánh giá Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam.
  • Việt Nam: Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của đảng Cộng Sản

    2026-1-26
    Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 14 đã kết thúc ngày 23/01/2026 sau khi Ban Chấp hành Trung ương "thống nhất tuyệt đối" bầu ông Tô Lâm tiếp tục giữ chức tổng bí thư. Ông Tô Lâm đã từng tuyên bố Đại hội Đảng lần này đánh dấu sự khởi đầu của một “kỷ nguyên mới”, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành “một quốc gia hiện đại có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.” 
    Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội hôm 20/01, tổng  bí thư Đảng cũng đã đề ra một mục tiêu đầy tham vọng : đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm ít nhất 10% trong giai đoạn 2026-2030. Nhưng đó là những mục tiêu đầy thách thức đối với ban lãnh đạo mới của đảng Cộng Sản Việt Nam.
    Cải cách hành chính: Tác động tích cực và tiêu cực
    Nguyên là bộ trưởng Công An, ông Tô Lâm đã lên làm tổng bí thư sau khi ông Nguyễn Phú Trọng qua đời vào tháng 8/2024. Trong thời gian ngắn nắm quyền, ông đã đẩy nhanh các cải cách hành chính, cắt giảm số lượng bộ, ngành của chính phủ từ 30 xuống còn 22, giảm số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố từ 63 xuống chỉ còn 34.
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 21/01/206, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, nhận định: 
    "Các cải cách này đã gây ra những tác động sâu rộng chưa từng có từ trước tới nay. Thứ nhất là về mặt tích cực, các biện pháp này giúp giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy hành chính, bộ máy Đảng và các cơ quan đoàn thể, qua đó giúp tăng hiệu quả quản lý nhà nước, cũng như tăng hiệu quả của công tác quản trị và xây dựng Đảng.
    Thứ hai, bộ máy được tinh gọn như vậy thì giúp nhà nước tiết kiệm được ngân sách để đầu tư vào các lĩnh vực phát triển, cũng như đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, hay là đầu tư vào hệ thống phúc lợi cho người dân.
    Mặt tích cực thứ ba là việc tinh gọn guồng máy sẽ giúp tăng tính thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng, tăng hiệu quả quản trị nhà nước và nâng cao năng lực của bộ máy chính trị và hành chính về lâu dài, qua đó giúp Việt Nam ngày càng ổn định, vững chắc hơn, cũng như có thể phát triển nhanh hơn trong thời gian tới.
    Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những mặt trái hay những rủi ro. Ví dụ như trong thời gian qua cũng có những phản ánh, những lời phàn nàn về sự đứt gãy, hay gián đoạn trong công tác quản trị, hay trong việc cung cấp một số dịch vụ công, do tình trạng thiếu nhân lực khi bộ máy bị tinh gọn. Nhiều cán bộ ở lại thì chưa được trang bị những kiến thức mới để đảm nhiệm các nhiệm vụ mới, do tình trạng thiếu trang thiết bị máy móc, hay do hệ thống công nghệ thông tin chưa được điều chỉnh hay cập nhật kịp thời để tương thích với cơ cấu bộ máy chính quyền mới. Tình trạng này cũng có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, vì như tôi được biết, việc cấp phép hoặc xét duyệt các dự án, hay là thông qua các giấy phép cho một số doanh nghiệp cũng bị đinh trệ.
    Một mặt tiêu cực khác, đó là xuất hiện sự bất mãn trong một bộ phận cán bộ. Những cán bộ này được ở lại, nhưng do những vấn đề như tôi đã nói trên, họ bị quá tải công việc. Bộ máy tinh gọn nhưng công việc thì không những không giảm mà có thể tăng lên. Đặc biệt là những cán bộ ở các tỉnh thành bị sát nhập mà trung tâm hành chính lại đặt ở tỉnh khác,  họ phải di chuyển rất xa đến nơi làm việc, họ phải sống xa vợ con gia đình nhiều ngày trong tuần.
    Trong số những người mà tôi đã phỏng vấn trong những chuyến tôi về Việt Nam, rất nhiều ý kiến cho rằng chủ trương sát nhập tỉnh thành hay tinh gọn bộ máy là cần thiết, nhưng những cải cách này đã được tiến hành một cách quá vội vàng, chưa cân nhắc thấu đáo các hậu quả. Đáng lẽ nó có thể được tiến hành theo từng giai đoạn, theo một trình tự, để bộ máy điều chỉnh kịp thời, thích nghi dần, rồi sau đấy mới đi tới các bước tiếp theo."
    Trong bài viết đăng trên trang mạng East Asia Forum ngày 10/01/2026, nhà nghiên cứu Alexander L. Vuving nhắc lại, dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, Bộ Chính Trị đã thông qua 4 nghị quyết từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, vạch ra chiến lược để đạt được các mục tiêu đề ra. Các nghị quyết bao gồm đổi mới khoa học và công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. 
    Tuy nhiên, theo ông Alexander L. Vuving, “cách thức thực hiện các chính sách cụ thể lại gây ra nhiều tranh cãi. Việc tái cấu trúc lãnh thổ quy mô lớn đã được thực hiện mà không tôn trọng cấu trúc theo chiều ngang và bản sắc địa phương. Các quyết định quan trọng về phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng cũng được đưa ra mà không có sự tham vấn công chúng một cách thực chất, như quyết định xây dựng đường sắt cao tốc dọc bờ biển, xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân và đặt mục tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm 10% trở lên trong những thập kỷ tới.” 
    Phát triển kinh tế tư nhân: Chỉ có lợi cho các tập đoàn lớn
    Ông Tô Lâm xem khu vực tư nhân là một “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế Việt Nam, cho dù khu vực nhà nước vẫn giữ “vai trò chủ đạo”. Nhưng theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân cho tới nay chủ yếu có lợi cho các tập đoàn lớn:
    "Từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền, chúng ta thấy là một số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã phát triển rất nhanh, đã mở rộng rất nhanh, đặc biệt là một số các doanh nghiệp mà tôi cho rằng có quan hệ tốt với chính quyền, cụ thể là với bộ Công An, hay với những cơ quan liên quan tới an ninh, những tập đoàn như là Vingroup, Sun Group, Masterise Group hay TNT v.v....
    Trong khoảng hơn một năm qua, họ phát triển rất nhanh về số lượng dự án, rồi đầu tư vào các lĩnh vực mới. Điều này cho thấy rằng những doanh nghiệp đó đã ít nhiều được hưởng lợi từ chính sách tạo điều kiện cho lĩnh vực kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, các chính sách này hầu như chỉ mang lại lợi ích cho một số tập đoàn lớn, mà chưa tạo ra được những lợi ích đồng đều, lan tỏa ra các doanh nghiệp khác.
    Những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chưa có được những  sự hỗ trợ cần thiết. Một số thành phần như kinh tế cá thể, kinh tế gia đình thì đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Họ là những bộ phận rất quan trọng tạo ra việc làm cho người dân, nhưng họ cũng đang tuân thủ các quy định về thuế, về hóa đơn, chứng từ..., khiến rất nhiều doanh nghiệp đóng cửa.
    Chính phủ Việt Nam phải cải cách pháp lý và chính sách để làm sao tạo ra được môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng, không chỉ giúp các doanh nghiệp tư nhân lớn phát triển, mà có thể thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển theo. Thứ hai là cũng phải cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Thứ ba là tạo thuận lợi cho việc tiếp cận tài chính và tín dụng, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. 
    Thứ tư là thời gian qua Việt Nam đã thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong thời gian tới, khía cạnh này cũng cần được tiếp tục thúc đẩy trong khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ ở các doanh nghiệp lớn, mà còn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo đà để họ có thể phát triển ngày càng lớn mạnh, trở thành các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp quốc tế.
    Trong bài viết đăng trên mạng ngày 19/01/2026, nhật báo Mỹ The New York Times ghi nhận ông Tô Lâm được xem là một nhân vật “có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho nhiều loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Nhưng các nhà phân tích nhấn mạnh “đảng vẫn ưu tiên sự kiểm soát tập trung. Mặc dù có năng suất thấp, các công ty nhà nước vẫn được hưởng ưu đãi đặc biệt.” Đảng có kế hoạch xây dựng một mô hình mới cho tăng trưởng kinh tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào lao động tay nghề thấp và dựa nhiều hơn vào khoa học và công nghệ. Theo The New York Times, “thách thức chính của Việt Nam là ở việc thực hiện các chính sách nhằm xây dựng một môi trường cởi mở hơn, hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn. Về nội bộ, một mối nguy hiểm là sự tồn tại của một nhóm nhỏ các doanh nghiệp được nhà nước ưu ái với năng suất thấp.”
    Theo mô hình chaebol: Cần thiết, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro
    Bên cạnh việc nhìn nhận kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, ông Tô Lâm còn có tham vọng phát triển những đại tập đoàn tư nhân theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc. Nghị quyết 68 nêu rõ tham vọng của Việt Nam thúc đẩy sự phát triển 20 doanh nghiệp hàng đầu quốc gia vào năm 2030. Nhưng nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp đưa ra lời cảnh báo:
    "Điều quan trọng là chúng ta cần học hỏi các điểm tốt, nhưng phải tránh các mặt bất lợi, các mặt xấu. Điểm tốt từ mô hình chaeebol Việt Nam có thể học hỏi đó là tạo ra những cơ chế giúp các doanh nghiệp tư nhân có thể tập trung các nguồn lực và qua đó trở thành các tập đoàn lớn, có  sức cạnh tranh cao, không chỉ ở phạm vi trong nước, mà phạm vi quốc tế. Qua đó có thể giúp Việt Nam mở rộng tiềm lực kinh tế và ảnh hưởng của mình lên toàn cầu.
    Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp này phát triển như vậy thì nó cũng có những mặt trái. Ví dụ như ở Hàn Quốc, các chaebol nổi tiếng là có sự tham gia vào những mạng lưới chính trị và qua các mạng lưới này thì họ giành được các nguồn lực để phát triển. Tuy nhiên, đi kèm theo là tình trạng hối lộ, tham nhũng, hay các mối quan hệ thân hữu, qua đấy nó làm xói mòn niềm tin của công chúng vào chính quyền.
    Khi các doanh nghiệp này tận dụng những mối quan hệ với chính phủ để phát triển như vậy thì nó cũng bóp nghẹt sự cạnh tranh và khả năng sáng tạo, đặc biệt là  các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi mà các chaebol của Hàn Quốc phát triển thì họ cũng phát triển một cách liều lĩnh, ví dụ như vay nợ quá mức để tham gia vào nhiều lĩnh vực phát triển đa ngành. Các chaebol Hàn Quốc đã là một phần nguyên nhân quan trọng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997.
    Một số mặt trái như vậy tôi thấy cũng đang xuất hiện ở một số tập đoàn tư nhân trong nước, cụ thể là vay nợ quá mức để theo đuổi các dự án rủi ro, không có hiệu quả cao về mặt kinh tế, không có tính bền vững về mặt tài chính. Tình trạng bóp nghẹt cạnh tranh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang trở nên càng ngày càng phổ biến."
    Mục tiêu 10%: Tăng tốc quá nhanh?
    Mặt khác, đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên theo mục tiêu mà ông Tô Lâm đề ra, trong khi phải giảm sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và đối phó với các rào cản thương mại sẽ là thử thách đối với Việt Nam trong những năm tới. 
    Tuần báo của Anh The Economist trong bài viết đăng ngày 08/01/2026, ghi nhận “nền kinh tế Việt Nam, nhờ xuất khẩu tăng mạnh, đã đạt mức tăng trưởng 8% trong năm 2025 – nhanh nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 8,3-8,5% của năm. Mặc dù mục tiêu 10% của năm nay có vẻ khó đạt được hơn, nhưng vẫn có lý do để lạc quan: Những cải cách lớn nhất của ông Lâm vẫn chưa phát huy hết tác dụng, trong đó có Nghị quyết 68, một nỗ lực nhằm thúc đẩy khu vực tư nhân bằng các biện pháp ưu đãi thuế và giảm bớt thủ tục hành chính. Các cơ quan quản lý đã được yêu cầu chấp nhận rủi ro cao hơn khi phê duyệt các dự án.”
    Vấn đề là theo The Economist, “hiện vẫn chưa rõ các tập đoàn lớn của Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm như thế nào nếu họ không hoàn thành các dự án quan trọng. Một số tập đoàn ngại rủi ro nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Ví dụ, vào ngày 25/12 vừa qua, Vingroup đã rút khỏi dự án trị giá 67 tỷ đôla xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt Nam. Tập đoàn này đã yêu cầu 80% dự án được tài trợ bằng khoản vay không lãi suất từ ​​nhà nước, nhưng nhà nước đã từ chối. Các tập đoàn khác có thể sẽ thay Vingroup tham gia dự án, nhưng tình trạng tương tự vẫn sẽ tiếp diễn. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, dù gây ấn tượng mạnh, vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi thái độ tùy hứng của một vài doanh nghiệp.”
    Về phần mình, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp e ngại là tăng tốc quá nhanh sẽ gây phản ứng ngược cho nền kinh tế Việt Nam: 
    "Chúng ta thấy là năm 2025 vừa qua Việt Nam cũng đã nỗ lực rất nhiều, nhưng chỉ đạt được mức tăng trưởng 8%. Thậm chí có nhiều người đặt câu hỏi liệu có phải là thực sự 8%, hay chỉ là một con số được "chế biến" để có thể đáp ứng được các mục tiêu chính trị của ban lãnh đạo.
    Tăng trưởng ít nhất 10% trong thời gian tới là một mục tiêu rất là thách thức. Việt Nam một hai năm trước chỉ đạt tăng trưởng 6 hay 7%. Bây giờ trong vòng một hai năm Việt Nam muốn tăng trưởng lên 10% thì tôi nghĩ rằng người ta đã đốt cháy giai đoạn ở một mức độ nào đấy. Muốn tăng tốc thì ta phải tăng tốc từ từ. Tôi sợ rằng trong thời gian tới, nếu Việt Nam quá nôn nóng để tăng trưởng và sử dụng các biện pháp không bền vững, không hiệu quả về lâu dài, thì có thể gặp sự cố, có thể là không phải ngay trong trước mắt 1, 2 năm tới, mà có thể là 3, 4 năm tới.
    Khi nền kinh tế phát triển quá nóng và dựa trên việc bơm tiền vào nền kinh tế, mà không dựa vào các biện pháp mang tính bền vững như phát triển khoa học công nghệ  hay đổi mới sáng tạo, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thể gặp các vấn đề nghiêm trọng trong vòng 4 đến 5 năm tới.
    Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư nước ngoài, nhưng trong bối cảnh môi trường địa chính trị toàn cầu gặp rất nhiều biến động như vậy, vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam có thể bị chựng lại, thậm chí có thể giảm trong thời gian tới.
    Việt Nam cũng phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là thương mại với Mỹ. Năm ngoái chúng ta thấy là thuế đối ứng chỉ bắt đầu được áp dụng vào nửa cuối năm, còn nửa đầu năm thì thuế đối ứng này chưa có tác động nhiều. Năm nay chúng ta sẽ thấy bức tranh toàn cảnh hơn về tác động của thuế đối với kinh tế Việt Nam. Trong trường hợp thuế đối ứng này làm giảm xuất khẩu Việt Nam, thì rõ ràng mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng.
    Thứ ba là tiêu dùng cá nhân ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Tiêu dùng chủ yếu vẫn tập trung ở một số bộ phận cư dân thu nhập cao ở thành thị. Còn rất nhiều gia đình đang thắt lưng buột bụng. Trong bối cảnh đấy, tiêu dùng khó có thể tăng trưởng mạnh để trở thành một động lực của nền kinh tế.
    Bên cạnh đấy, các động lực mới sẽ được ưu tiên phát triển trong cái thời gian tới, như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hay phát triển doanh nghiệp tư nhân thì vẫn cần thời gian không chỉ một hai năm mà có lẽ lâu hơn mới có thể phát huy tác dụng, để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai.
    Trong bối cảnh đấy thì có lẽ các đòn bẩy quan trọng nhất mà chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục sử dụng đấy là chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng, đặc biệt là thông qua đầu tư công, đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng để kích thích kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, biện pháp này đi kèm với mặt trái, đó là có thể dẫn tới giá tài sản tăng nhanh, dẫn tới bong bóng thị trường bất động sản, có thể đe dọa ổn định tài chính của Việt Nam và tạo ra những mầm móng bất ổn cho kinh tế Việt Nam trong lâu dài."
  • Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XIV : Sự cân bằng quyền lực giữa công an và quân đội

    2026-1-19
    Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XIV diễn ra từ ngày 19 đến 25/01/2026 được nhấn mạnh là "Đại hội tiến vào kỷ nguyên mới". Những định hướng chính trị chính cho 5 năm tới được thông qua trong dịp này. Nhưng vấn đề được quan tâm nhất : Ai sẽ là tổng bí thư ?
    Tổng bí thư Tô Lâm, 68 tuổi, được cho là sẽ tiếp tục giữ chức vụ cao nhất trong Đảng thêm một nhiệm kỳ. Thậm chí, có thông tin tổng bí thư sẽ kiêm nhiệm chức chủ tịch nước, như mô hình của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên… Trong trường hợp đó, mối quan hệ với bên quân đội sẽ như thế nào vì chủ tịch nước hiện nay là đại tướng quân đội Lương Cường ? Các nhà tân lãnh đạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức như thế nào trong bối cảnh chính trường quốc tế đầy biến động ?
    Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt.
    RFI : Ngoại trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là "sự kiện mang ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đất nước". Vậy thách thức trong 5 năm tới đối với ban lãnh đạo mới là gì ? 
    Benoît de Tréglodé : Nói là "Thời điểm bước ngoặt" ư ? Đời sống chính trị của chế độ Việt Nam được chi phối bởi chu kỳ các Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam. Thời điểm năm 2026 này cũng không then chốt hơn thời điểm cách đây 5 năm, vào năm 2021. Rõ ràng đây là những mốc thời gian, lần nào cũng thực sự quan trọng khi đưa đời sống chính trị Việt Nam trở lại chu trình liên tục, không gián đoạn. Đây là những yếu tố giữ cân bằng đời sống chính trị Việt Nam.
    Đọc thêmViệt Nam trước Đại hội Đảng: Yếu tố Trung Quốc và lá bài Hoa Kỳ
    Điều thú vị là trong nhiệm kỳ này có hai ngày trọng đại, đánh dấu khởi đầu và gần như kết thúc nhiệm kỳ. Những ngày kỷ niệm luôn rất quan trọng để hiểu được vị trí trung tâm của một chế độ và các nhà lãnh đạo. Việt Nam của nhiệm kỳ thứ XIV sẽ bắt đầu bằng sự kiện kỷ niệm có ý nghĩa nền tảng đối với ông Tô Lâm, cũng như với toàn bộ giới lãnh đạo chính trị đất nước : Đó là kỷ niệm 40 năm Đổi Mới. Khẳng định nền tảng và định hướng kinh tế của đất nước thông qua một lễ kỷ niệm đánh dấu thời kỳ mở cửa kinh tế là một biểu tượng không thể quan trọng hơn đối với một đất nước đang đặt việc theo đuổi phát triển và tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm trong mọi tham vọng và dự án của mình.
    Lễ kỷ niệm thứ hai, rất quan trọng, đánh dấu cho nhiệm kỳ này, đó là việc tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng 1930-2030. Và đây cũng là trách nhiệm của ban lãnh đạo sẽ được bầu chọn vào cuối tuần.
    Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đề cập tới hai trụ cột, hai nền tảng cơ bản của hệ thống Việt Nam hiện nay. Đó là sự tiếp nối của chính sách kinh tế đầy tham vọng về tăng trưởng và mở cửa. Ở điểm này, tôi tin là sẽ không có bất kỳ sự thay đổi hay điều chỉnh nào.
    Việt Nam đã khẳng định vị thế vững chắc trong khu vực và trên trường quốc tế. Việc này phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Và Đảng lại tìm thấy ở đó cơ sở cho tính hợp pháp và duy trì thế độc quyền của mình.
    Việc một nước Việt Nam có mức tăng trưởng 8% hàng năm củng cố đáng kể vị thế của Đảng trong xã hội Việt Nam và trên trường quốc tế.
    Đọc thêmMột mình tiếp tổng thống Mỹ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam
    Về trụ cột thứ hai, đội ngũ lãnh đạo mới, được lựa chọn vào cuối kỳ Đại hội, sẽ nhắc lại hơn bao giờ hết rằng vai trò của người tổ chức, của người lãnh đạo tối cao của đảng Cộng Sản Việt Nam, sẽ tuyệt đối không được thay đổi và phải bằng mọi giá củng cố chiến lược thực dụng, thực tế về kinh tế của đất nước.
    RFI : Chúng ta đã nhắc đến những thách thức, những tham vọng về kinh tế, và trong bối cảnh những thay đổi toàn cầu, các nhà tân lãnh đạo của đất nước, đặc biệt là tổng bí thư cần phải có những kỹ năng, phẩm chất nào và phải đáp ứng những điều kiện gì để có thể thành công ?
    Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này khá phức tạp, không thể tóm gọn trong vài điểm. Phẩm chất quan trọng nhất của một tổng bí thư đảng là từng giữ chức tổng bí thư và sở hữu kiến ​​thức cũng như mạng lưới quan hệ cần thiết để duy trì vị trí, và từ vị trí đó có thể bảo đảm sự liên tục của chính sách quốc gia.
    Vào đúng ngày khai mạc Đại hội Đảng XIV và chỉ bốn đến năm ngày trước khi diễn ra các phiên thảo luận cuối cùng, thì cũng không phải là không thể đưa ra một số giả định. Các nhà phân tích đã bàn luận về vấn đề này trong vài tuần qua. Rất có thể tổng bí thư đương nhiệm muốn tiếp tục tại vị. Và tin đồn còn đi xa hơn khi cho rằng ông Tô Lâm dường như muốn mở rộng vai trò và phạm vi chức năng bằng cách kiêm nhiệm thêm chức chủ tịch nước. Đây là điều không có gì đặc biệt ở Việt Nam, đã từng xảy ra và không phải là hiếm gặp ở các quốc gia khác có hệ thống chính trị tương tự. Ví dụ Trung Quốc và vai trò của Tập Cận Bình trong việc hoạch định cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại.
    Đọc thêmViệt Nam : “Quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư đảng Cộng Sản
    Một điều thú vị khác cần lưu ý, cho dù không muốn đi trước thời gian biểu của đại hội cũng như thời điểm công bố các quyết định vào cuối tuần này, là trên thực tế, 18 tháng đầu cầm quyền của ông Tô Lâm cho thấy tổng bí thư đương nhiệm đã can thiệp rất tích cực và quyết liệt vào cả chính sách đối nội, lẫn đối ngoại. Do đó, có thể nói rằng phạm vi hoạt động của hai lĩnh vực này đã được cùng một cá nhân khai thác triệt để. Vì vậy, xin nhắc lại là không phải là không thể dự đoán được quyết định được đưa ra vào cuối tuần này.
    RFI : Nếu hai vị trí cao nhất được sáp nhập, việc này sẽ tác động như thế nào đối với bên quân đội trong “ngũ trụ”, sắp tới có thể là “tứ trụ” ?
    Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là việc phân chia sẽ như thế nào.
    Nói một cách khái quát, ông Tô Lâm sẽ để lại chút ít gì cho quân đội nếu họ không muốn làm mất mặt quân đội. Nhưng tôi nghĩ quân đội sẽ mất khá nhiều ; họ đã mất khá nhiều nếu việc sáp nhập này diễn ra. Nhưng trong nội bộ Bộ Chính Trị, chuyện sẽ diễn ra như thế nào đối với bên quân đội ? Đây là việc rất quan trọng.
    Việc sáp nhập hai vị trí tổng bí thư và chủ tịch nước là một vấn đề rất phức tạp nhìn từ góc độ Hiến Pháp. Chủ tịch nước Việt Nam là người đứng đầu lực lượng vũ trang và, theo một cách nào đó, cũng là người đứng đầu Ủy ban Quốc phòng và An ninh. Vì vậy, từ góc độ đó, việc không còn trao chức chủ tịch nước cho một sĩ quan quân đội, mà lại tự cho mình nắm giữ chức vụ đó, đã đặt ra nhiều vấn đề gây khó khăn cho bộ trưởng Quốc Phòng đương nhiệm trong việc đàm phán. Xin nhắc lại là năm 2025, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được khai mạc vào đúng ngày mang tính biểu tượng, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12.
    Đọc thêmHà Nội căng thẳng trước thềm đại hội đảng : Quân đội có cản bước cải cách của ông Tô Lâm?
    Vấn đề thực sự quan trọng trong đại hội lần này là nếu ông Tô Lâm quyết định giữ cả hai vị trí này thì ông cũng tránh gây tổn hại không đáng có cho Quân đội Việt Nam và các đại diện của Quân đội, trong trường hợp hiện nay là bộ trưởng bộ Quốc Phòng. Hiện tại vẫn còn hơi sớm để thảo luận về quyết định này vì chúng ta chưa biết kết quả, mà phải chờ tới cuối Đại hội Đảng XIV.
    Nhưng giả sử có sự phân bổ quyền lực này và nhìn từ quan điểm cá nhân, ông Tô Lâm với tư cách là tổng bí thư, người có thể nắm giữ cả hai vị trí, và ông Tô Lâm với tư cách là tướng Công an với bộ Công An cùng với mạng lưới đằng sau, chuyện này sẽ diễn ra như thế nào trong mối quan hệ với Quân đội và bộ Quốc Phòng, một trụ cột khác của bộ máy an ninh và quyền lực Việt Nam ? Sự cân bằng giữa hai chủ thể an ninh vô cùng lớn này, mà chúng ta không nên quên hiện đã trở thành các chủ thể chính trị và kinh tế, là cốt lõi của tương lai chế độ chính trị Việt Nam.
    RFI : Cuộc cải cách hành chính năm 2025 cũng có những tác động nhất định đến vai trò của tổng bí thư ?
    Benoît de Tréglodé : Tổng bí thư Tô Lâm - người biết rằng ông thực sự không có đối thủ nào trong bộ máy thể chế Việt Nam và cũng biết rằng sự nổi tiếng của ông có thể biến động theo thời gian và bằng cách cố nắm bắt, thực hiện một bước đi quan trọng để tận dụng lợi thế của việc sáp nhập tiềm năng và quyền lực gần như tùy ý trong bộ máy Nhà nước Việt Nam - sẽ cần các công cụ hiến pháp giúp ông tiến lên, cho phép ông thi hành các quyết định của mình. Trong một chế độ mà Việt Nam gọi là "nền dân chủ nhân dân", các quyết định không phải do một người đưa ra mà phải được một bộ máy phê chuẩn, trong trường hợp này là Quốc Hội và các cơ quan khác. Do đó, tự do của ông Tô Lâm cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong bộ Chính Trị, và đa số này cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong Ban Chấp hành Trung ương.
    Vì vậy nếu ông Tô Lâm thực sự theo đuổi hoạt động chính trị ở Việt Nam, ông cần có một Ban Chấp hành Trung ương ủng hộ ông, một Bộ Chính Trị ủng hộ ông và một Quốc Hội thông qua các quyết định của ông.
    Trong mọi trường hợp đó, cải cách hành chính đều có tác động, đều có những hệ quả đối với cơ cấu của các cơ quan ra quyết định quan trọng ở Việt Nam. Cho nên có thể hiểu rằng việc thực hiện cải cách hành chính năm 2025 cũng liên quan trực tiếp đến mong muốn của người khởi xướng là có được những cơ quan nắm giữ quyền lực chính trị quan trọng ở Việt Nam đứng sau ông và xác nhận các hành động của ông.
    Đọc thêmQuyền lực cá nhân tổng bí thư thông qua quá trình tinh giản bộ máy hành chính ở Việt Nam
    RFI : Sau Đại hội, công cuộc chiến chống tham nhũng sẽ được tiếp tục thực hiện ? Và liệu có quyết liệt như đang làm hiện nay không ?
    Benoît de Tréglodé : Cần phải nhắc lại rằng tham nhũng là một vấn đề còn lâu mới giải quyết được và không phụ thuộc vào chu kỳ 5 năm của các Đại hội Đảng.
    Tham nhũng gắn liền mật thiết với khái niệm phát triển kinh tế. Và tham nhũng cũng gắn liền mật thiết với cách hoạt động và tài trợ của bộ máy hành chính. Sự phát triển kinh tế ở hầu hết các nước châu Á đều bao gồm, hoặc đi kèm với sự gia tăng các hành vi tham nhũng khá phổ biến.
    Vì vậy, không nên cố gắng đưa việc chấm dứt, kết thúc hoặc tiếp tục các chiến dịch chống tham nhũng vào chương trình nghị sự của mỗi Đại hội Đảng.
    Đọc thêmChống tham nhũng thời hậu Nguyễn Phú Trọng: Sẽ vẫn "diệt chuột không để vỡ bình"
    Tham nhũng đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra, điều đó là chắc chắn. Và mọi chuyện sẽ không sớm dừng lại nay mai. Năm 2025 được đánh dấu bởi cuộc cải cách hành chính của ông Tô Lâm, với tham vọng đơn giản hóa và hiện đại hóa bộ máy Nhà nước, và cũng bao gồm cả tham vọng hạn chế số lượng các trung gian tại các cơ quan chính phủ, vốn luôn là cơ hội nảy sinh các hành vi tham nhũng ở Việt Nam.
    Bản thân cuộc cải cách hành chính này đã bao hàm mong muốn hạn chế những hành vi lạm dụng hoặc tham nhũng. Cải cách này lại cũng diễn ra vào thời điểm thuận lợi, chỉ một năm trước Đại hội Đảng, còn rõ ràng mang tham vọng tái xác định vị trí hoặc tái tập trung quyền lực chính trị ở Việt Nam xung quanh Đảng và người khởi xướng cải cách.
    Vì vậy, rõ ràng là nhìn từ góc độ này, cuộc cải cách hành chính còn mang một chiều hướng chính trị rất rõ rệt : vừa hiện đại hóa bộ máy về mặt chức năng, vừa thâu tóm bộ máy về mặt chính trị.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp.
  • Dự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử

    2026-1-12
    Nhu cầu tiêu thụ điện của ngành công nghiệp Việt Nam, nơi đặt cơ sở sản xuất của nhiều tập đoàn đa quốc gia như Samsung và Apple, thường xuyên vượt quá nguồn cung, vốn bị ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan ngày càng thường xuyên, như hạn hán và mưa bão.
    Trước tình hình này, Việt Nam muốn tăng sản lượng điện từ nhiều nguồn, chủ yếu là năng lượng tái tạo và khí đốt, nhưng các dự án đã bị chậm trễ và gặp trắc trở do các vấn đề quy định và giá cả, cho nên nay rất trông chờ vào điện hạt nhân.
    Sau khi quyết định khởi động lại chương trình năng lượng hạt nhân vào năm ngoái, Việt Nam đã giao cho Nga thực hiện dự án Ninh Thuận 1 và Nhật Bản thực hiện dự án Ninh Thuận 2. Vào đầu tháng 12 vừa qua, chính phủ Việt Nam vừa phê duyệt danh mục các công trình và dự án được xếp vào nhóm quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành năng lượng, trong đó có dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2 tại Khánh Hòa. Theo lộ trình của chính phủ, 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 tại Khánh Hòa, công suất 2.000-3.200MW, dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 2030-2035.
    Thế nhưng, chỉ vài ngày sau, Nhật Bản, một trong hai đối tác mà Việt Nam đã chọn, lại thông báo rút khỏi dự án hạt nhân. Hôm 08/12/2025, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Naoki Ito nói với hãng tin Anh Reuters rằng Nhật Bản đã rút khỏi kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân quy mô lớn tại Việt Nam “vì thời gian quá gấp rút”.
    Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 16/12/2025, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, giải thích:
    "Thông tin mà đại sứ Nhật ở Việt Nam nêu ra tóm tắt là như thế này: Đấy là những  công trình rất là lớn và tiêu chuẩn an toàn của nó thì càng ngày càng cao, mà Việt Nam đặt thời hạn quá gấp, tức là muốn năm 2035 phải xong. Ông ấy cho là không khả thi.
    Tôi thấy cũng đúng thôi: Đấy là loại lò thế hệ III+, tức là có trang bị các thiết bị chống lại mất an toàn bằng phương pháp thụ động. Trong thời gian gần đây, các lò có công suất tương đương như thế được xây ở Mỹ , ở Phần Lan, ở Trung Quốc, đặc biệt ở Bangladesh, do Nga giúp xây dựng.
    Công trình rất lớn và rất phức tạp, đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn cao, nhưng Việt Nam lại yêu cầu là năm 2035 phải xong, thậm chí Việt Nam còn có một yêu cầu khác, tức là trong quá trình xây dựng lò như thế thì phải có chuyển giao công nghệ. Những điều đó là Nhật không thể thực hiện được. Nhật còn nói thêm là bây giờ, sau vụ Fukushima, hiện nay là ở Nhật cũng có những đòi hỏi về xây các lò phản ứng mới. Do đó họ không đủ khả năng để làm theo yêu cầu của Việt Nam.
    Căn cứ trên kết quả xây các lò loại thế hệ III + ở các nước thì đều hoặc là trễ tiến độ, hoặc là đội giá thành lên gấp một vài lần. Ở Bangladesh chẳng hạn, công trình do Nga trực tiếp làm đáng lý ra phải được đưa vào vận hành năm 2023, nhưng đã trễ sang năm 2024, rồi lùi sang năm 2025 và bây giờ phải đến tháng 12/26 may ra mới có thể vận hành được. Như thế rõ ràng việc xây dựng các lò lớn như thế hiện nay là một vấn đề rất khó khăn."
    Quyết định của Tokyo có thể làm phức tạp thêm chiến lược dài hạn của Việt Nam phát triển điện hạt nhân nhằm tránh tình trạng thiếu điện. Nói cách khác, Việt Nam khó mà đạt mục tiêu về thời hạn đặt ra cho 2 dự án nhà máy hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2: 
    "Bây giờ Nhật Bản từ chối, như thế là Việt Nam cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu lớn của Việt Nam: phải có điện là một, điện sạch là hai và ngoài ra đến năm 2050 phải đạt trung hòa carbon. Những mục tiêu đó là rất là khó đạt.
    Nhưng đại sứ Nhật cũng có nói Nhật mở ra một khả năng, tức là sẽ tham gia phát triển các công nghệ lò gọi là lò module, có thể lắp ghép được, gọi là SMR, công suất  khoảng vài trăm megawatt. Nhật Bản sẽ hợp tác với Việt Nam trong các dự án đó."
    Sau khi Nhật Bản rút khỏi dự án Ninh Thuận 2, phía Nga đã trấn an là họ sẽ không bỏ rơi Việt Nam. Theo báo chí trong nước, trong cuộc điện đàm ngày 11/12 với thủ tướng Phạm Minh Chính, tổng giám đốc Tập đoàn Rosatom của Nga đã cam kết hợp tác với Việt Nam "xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 theo công nghệ hiện đại nhất."
    Tuy nhiên, theo giáo sư Phạm Duy Hiển, cũng không chắc là Nga có thể làm theo đúng tiến độ như mục tiêu mà Việt Nam đề ra
    "Nga thì quyết tâm làm, khác với Nhật Bản. Họ còn có một chương trình hợp tác với Việt Nam rộng rãi hơn, bao gồm việc xây dựng trung tâm phát triển hạt nhân với lò phản ứng 10 MW và một số chuyện nữa liên quan đến nhiên liệu của trung tâm Đà Lạt. Đó là một dự án có thể nói là tổng hợp nhiều thứ và do đó việc họ phải làm dự án Ninh Thuận 1 là điều chắc chắn.
    Thế còn họ làm được đến mức nào thì như tôi nói khi nãy, căn cứ theo cái mà họ làm với Bangladesh thì thấy là trễ tiến độ khoảng hơn 7 năm. Cho nên nếu mà Việt Nam có làm, thì phải có những cọc mốc. Những cái cọc mốc đó rất là quan trọng, ví dụ như phải ký kết giữa hai bên, cam kết là nước Nga sẽ xây nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và cung cấp đủ tài chính để làm dự án. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy cọc mốc đó. Sau khi hai bên chính thức ký kết, có tiền bạc  đủ rồi, tôi nghĩ ít nhất phải hơn 10 năm thì mới có thể hoàn thành được.
    Cho nên khả năng hoàn tất dự án vào năm 2035 đối với Nga cũng là không dễ. Tuy Nga chưa nói cụ thể hạn định nào,ví dụ như là bao giờ đổ mẻ bê tông đầu tiên để mà xây nhà lò , sau đó ít nhất là 7 năm, 8 năm thì mới hoàn thành. Bây giờ cho đến lúc đổ bê tông đầu tiên chưa thấy con đường đi như thế nào cả.
    Các nhà lãnh đạo Việt Nam có những kế hoạch, có những mục tiêu muốn đặt ra. Đối với một số công trình cổ điển thì có thể đặt kế hoạch năm này năm khác được, còn loại công trình này Việt Nam chưa hề có những trải nghiệm nào cả. Với kinh nghiệm trong những năm gần đây về xây các lò công suất lớn ở nhiều nước, kể cả những nước tư bản hiện đại, tôi cho rằng con đường đó sẽ không tồn tại lâu được.
    Những lò công suất trung bình, công suất bé có thể là giải pháp tổng thể cho bài toán điện hạt nhân của nhiều nước. Và nó cũng thích hợp với Việt Nam trong nhiều mặt, tức là về vấn đề chọn địa điểm, vấn đề vốn, vân vân... Có điều hiện nay chưa có nước nào đưa ra một lò thương mại hóa cho toàn thế giới cả. Mọi người đều có ý kiến là có thể loại lò đó sẽ chỉ được thương mại hóa sau năm 2030. Tôi nghĩ cũng có lý."
    Với sự chậm trễ trong các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu điện trầm trọng và phải gấp rút tìm những nguồn năng lượng bổ sung, theo giáo sư Phạm Duy Hiển:
    "Tôi nghĩ là điều đó cần phải đem ra bàn bạc và đó là một nguy cơ có thể có. Hai nhà máy điện Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 đóng góp công suất rất lớn, mà bây giờ một nhà máy dứt khoát là không có rồi, cho nên là Việt Nam trong tương lai cho đến những năm 2040 là sẽ thiếu điện.
    Bây giờ trở lại dùng than thì khó .May ra hiện nay có một triển vọng là phát triển một số mỏ khí. Có những thông tin như vậy và cũng khá chắc chắn, thậm chí người ta cũng đã nói đến đường dẫn ống khí về đất liền. Tôi hy vọng đó là một nguồn có thể thay thế, nhưng cũng phải chờ những thông báo chính thức. Nếu không có những nguồn khí như vậy thì rõ ràng là Việt Nam phải đặt vấn đề lấy đâu ra nguồn để thay thế ít nhất là một nhà máy của Nhật sẽ không đưa vào hoạt động."
    Theo nguồn tin mà giáo sư Phạm Duy Hiển có được, Hàn Quốc đã chính thức nhận xây nhà máy điện hạt nhân thứ hai, thay chỗ của Nhật Bản và hiện "đang vào cuộc nhanh chóng". Tuy nhiên, hiện thông tin này chưa được chính thức xác nhận. 
    Trong cuộc họp ngày 07/01 vừa qua, thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã bày tỏ quan ngại về sự chậm trễ trong dự án nhà máy hạt nhân, "tiến độ công việc chưa được như mong muốn, có nhiều vướng mắc phải tháo gỡ ngay như công tác đàm phán hiệp định hợp tác còn chậm, phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài; bố trí vốn cho giải phóng mặt bằng…"
    Ông Phạm Minh Chính giao cho bộ Công Thương và bộ Ngoại Giao trong tháng 1/2026 phải kết thúc đàm phán với phía Nga về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Đồng thời thủ tướng Việt Nam thúc giục tập đoàn Petrovietnam, bộ Công Thương, Bộ Ngoại Giao đề xuất lựa chọn thay thế Nhật Bản một đối tác mới "có công nghệ nguồn tiên tiến phù hợp với tình hình mới" để hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2.
    Nhưng có vẻ như Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phát triển các lò phản ứng hạt nhân kiểu module. Theo Nghị quyết phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, được Quốc Hội Việt Nam thông qua, có hiệu lực từ ngày 1.3.2026, chính phủ được giao ban hành cơ chế đầu tư phát triển điện hạt nhân (ĐHN) module nhỏ (SMR) "theo từng thời kỳ, căn cứ nhu cầu và tình hình thương mại hóa công nghệ và đảm bảo an ninh, an toàn hạt nhân".

About Tạp chí Việt Nam

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website
Social
v8.5.0 | © 2007-2026 radio.de GmbH
Generated: 2/9/2026 - 1:15:24 PM